Jeremias 2
Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A palavra do SENHOR veio a mim, dizendo:
1Có lời Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng:
2“Vá e proclame aos ouvidos de Jerusalém, dizendo: ‘Assim diz o SENHOR: “Lembro-me, a seu favor, da bondade da sua juventude, do seu amor como noiva, de como você me seguiu no deserto, em uma terra que não foi semeada.
2Hãy đi, kêu vào tai Giê-ru-sa-lem rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ta còn nhớ về ngươi lòng nhân từ của ngươi lúc đang thơ, tình yêu mến trong khi ngươi mới kết bạn, là khi ngươi theo ta nơi đồng vắng, trong đất không gieo trồng.
3Israel era santidade para o SENHOR, as primícias da sua colheita. Todos os que o devorarem serão considerados culpados. O mal virá sobre eles”’, diz o SENHOR.”
3Y-sơ-ra-ên vốn là dân biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va; vốn là trái đầu mùa của hoa lợi Ngài. Phàm những kẻ nuốt dân ấy sẽ có tội; tai vạ sẽ lâm trên họ, Đức Giê-hô-va phán vậy.
4Ouçam a palavra do SENHOR, ó casa de Jacó, e todas as famílias da casa de Israel!
4Hỡi nhà Gia-cốp, cùng các họ hàng nhà Y-sơ-ra-ên, hãy nghe lời Đức Giê-hô-va!
5Assim diz o SENHOR: “Que injustiça os seus pais encontraram em mim, para que se afastassem de mim, e andassem após a vaidade inútil, e se tornassem inúteis?
5Đức Giê-hô-va phán như vầy: Tổ phụ các ngươi có thấy điều không công bình gì trong ta, mà đã xa ta, bước theo sự hư không, và trở nên người vô ích?
6Eles não disseram: ‘Onde está o SENHOR que nos tirou da terra do Egito, que nos guiou pelo deserto, por uma terra de desertos e de covas, por uma terra de seca e da sombra da morte, por uma terra pela qual ninguém passava, e onde nenhum homem habitava?’
6Họ không nói: Chớ nào Đức Giê-hô-va ở đâu? Aáy là Đấng đã đem chúng ta lên khỏi đất Ê-díp-tô, đã dắt chúng ta qua đồng vắng, trong đất sa mạc đầy hầm hố, trong đất khô khan và có bóng sự chết, là đất chẳng một người nào đi qua, và không ai ở.
7Eu os trouxe a uma terra fértil, para comerem o seu fruto e a sua bondade; mas, quando entraram, vocês contaminaram a minha terra, e fizeram da minha herança uma abominação.
7Ta đã đem các ngươi vào trong một đất có nhiều hoa quả, để ăn trái và hưởng lợi nó. Nhưng, vừa vào đó, các ngươi đã làm ô uế đất ta, đã làm cho sản nghiệp ta thành ra gớm ghiếc.
8Os sacerdotes não disseram: ‘Onde está o SENHOR?’ e os que lidam com a lei não me conheceram. Os governantes também transgrediram contra mim, e os profetas profetizaram por Baal e seguiram coisas que não trazem proveito.
8Các thầy tế lễ không còn nói: Nào Đức Giê-hô-va ở đâu? Những người giảng luật pháp chẳng biết ta nữa. Những kẻ chăn giữ đã bội nghịch cùng ta. Các tiên tri đã nhân danh Ba-anh mà nói tiên tri, đi theo những sự không ích gì cả.
9“Portanto, eu ainda contenderei com vocês”, diz o SENHOR, “e contenderei com os filhos dos seus filhos.
9Đức Giê-hô-va phán: Vì cớ đó ta sẽ còn tranh cạnh cùng các ngươi, cho đến con cháu của con cháu các ngươi nữa.
10Pois passem para as ilhas de Quitim, e vejam. Enviem a Quedar, e considerem diligentemente, e vejam se já houve tal coisa.
10Hãy qua các cù lao Kít-tim mà xem! Hãy khiến người đến Kê-đa, và xét kỹ; xem thử có việc như vậy chăng.
11Alguma nação trocou os seus deuses, que na verdade não são deuses? Mas o meu povo trocou a sua glória por aquilo que não traz proveito.
11Có nước nào thay đổi thần của mình, mặc dầu ấy chẳng phải là thần không? Nhưng dân ta đã đổi vinh hiển mình lấy vật vô ích!
12“Espantem-se com isso, ó céus, e fiquem horrorizados. Fiquem muito desolados”, diz o SENHOR.
12Hỡi các từng trời, hãy lấy làm lạ về sự đó; hãy kinh hãi gớm ghê, hãy rất tiêu điều, Đức Giê-hô-va phán.
13“Pois o meu povo cometeu dois males: eles me abandonaram, a fonte de águas vivas, e cavaram cisternas para si mesmos: cisternas rachadas que não retêm água.
13Dân ta đã làm hai điều ác: chúng nó đã lìa bỏ ta, là nguồn nước sống, mà tự đào lấy hồ, thật, hồ nứt ra, không chứa nước được.
14Acaso Israel é um escravo? Ele nasceu na escravidão? Por que ele se tornou um cativo?
14Y-sơ-ra-ên là đầy tớ, hay là tôi mọi sanh trong nhà? Vậy sao nó đã bị phó cho sự cướp?
15Os leões novos rugiram contra ele e levantaram as suas vozes. Eles fizeram da sua terra uma desolação. Suas cidades estão queimadas, sem habitantes.
15Các sư tử con gầm thét, rống lên inh ỏi nghịch cùng nó, làm cho đất nó thành ra hoang vu. Các thành nó bị đốt cháy, không có người ở nữa.
16Os filhos também de Mênfis e de Tafnes quebraram o alto da sua cabeça.
16Con cháu của Nốp và Tác-pha-nết cũng đã làm giập sọ ngươi.
17“Você não trouxe isso sobre si mesma, ao abandonar o SENHOR, seu Deus, quando ele a guiava pelo caminho?
17Mọi điều đó há chẳng phải xảy ra cho ngươi vì đã lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, khi Ngài dắt ngươi trên đường sao?
18Agora, o que você ganha indo ao Egito, para beber as águas de Sior? Ou por que você vai no caminho para a Assíria, para beber as águas do Rio?
18Hiện bây giờ, ngươi có việc gì mà đi đường qua Ê-díp-tô đặng uống nước Si-ho? Có việc gì mà đi trong đường A-si-ri đặng uống nước Sông cái?
19“A sua própria maldade a corrigirá, e as suas apostasias a repreenderão. Saiba, portanto, e veja que é uma coisa má e amarga, que você tenha abandonado o SENHOR, seu Deus, e que o meu temor não esteja em você”, diz o Senhor, DEUS dos Exércitos.
19Tội ác ngươi sẽ sửa phạt ngươi, sự bội nghịch ngươi sẽ trách ngươi, nên ngươi khá biết và thấy rằng lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, và chẳng có lòng kính sợ ta, ấy là một sự xấu xa cay đắng, Chúa, là Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
20“Pois há muito tempo eu quebrei o seu jugo, e rompi as suas ataduras. Você disse: ‘Eu não servirei’; pois em cada colina alta e debaixo de cada árvore verde você se curvou, agindo como prostituta.
20Xưa kia ta đã bẻ ách ngươi, bứt xiềng ngươi, mà ngươi nói rằng: Tôi không vâng phục nữa; vì trên mỗi đồi cao, dưới mỗi cây xanh, ngươi đã cúi mình mà hành dâm.
21Contudo, eu a havia plantado como uma videira nobre, uma semente pura e fiel. Como então você se transformou em ramos degenerados de uma videira estrangeira para mim?
21Ta đã trồng ngươi như cây nho tốt, giống đều rặc cả; mà cớ sao ngươi đã đốc ra nhánh xấu của gốc nho lạ cho ta?
22Pois, ainda que você se lave com lixívia, e use muito sabão, ainda assim a sua iniquidade está marcada diante de mim”, diz o Senhor DEUS.
22Dầu ngươi lấy hỏa tiêu và dùng nhiều diêm cường rửa mình, tội lỗi ngươi cũng còn ghi mãi trước mặt ta, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
23“Como você pode dizer: ‘Não estou contaminada. Não fui atrás dos baalins’? Veja o seu caminho no vale. Reconheça o que você fez. Você é uma dromedária ligeira que cruza os seus caminhos,
23Sao ngươi dám nói rằng: Ta không bị ô uế; ta chẳng từng đi theo thần tượng Ba-anh? Hãy xem đường ngươi trong nơi trũng; nhận biết điều ngươi đã làm, như lạc đà một gu lanh lẹ và buông tuồng,
24uma jumenta selvagem acostumada ao deserto, que fareja o vento no seu desejo. Quando ela está no cio, quem pode detê-la? Todos os que a procuram não se cansarão. No seu mês, eles a encontrarão.
24như lừa cái rừng, quen nơi đồng vắng, động tình dục mà hút gió. Trong cơn nóng nảy, ai hay xây trở nó được ư? Những kẻ tìm nó không cần mệt nhọc, đến trong tháng nó thì sẽ tìm được.
25“Evite que os seus pés fiquem descalços, e a sua garganta tenha sede. Mas você disse: ‘É em vão. Não, pois eu amei os estrangeiros, e irei atrás deles.’
25Hãy giữ cho chân ngươi chớ để trần, cổ ngươi chớ khát! Nhưng ngươi nói rằng: Aáy là vô ích; không, vì ta thích kẻ lạ và sẽ theo chúng nó.
26Como o ladrão se envergonha quando é descoberto, assim a casa de Israel se envergonha — eles, os seus reis, os seus príncipes, os seus sacerdotes e os seus profetas,
26Như kẻ trộm bị bắt, xấu hổ thể nào, thì nhà Y-sơ-ra-ên, nào vua, nào quan trưởng, nào thầy tế lễ, nào kẻ tiên tri, cũng sẽ xấu hổ thể ấy.
27que dizem à madeira: ‘Você é meu pai’, e a uma pedra: ‘Você me deu à luz’, pois eles viraram as costas para mim, e não o rosto, mas no tempo da sua angústia eles dirão: ‘Levanta-te e salva-nos!’
27Chúng nói với gỗ rằng: Ngài là cha tôi; với đá rằng: Ngài đã sanh ra tôi. Vì chúng đã xây lưng lại cùng ta, mà không xây mặt lại với ta. Đoạn, đến ngày hoạn nạn, chúng sẽ nói rằng: Hãy chỗi dậy, cứu lấy chúng tôi!
28“Mas onde estão os seus deuses que você fez para si mesma? Que eles se levantem, se puderem salvá-la no tempo da sua angústia, pois você tem tantos deuses quantas são as suas cidades, ó Judá.
28Vậy chớ nào các thần mà các ngươi đã làm ra cho mình ở đâu? Nếu các thần ấy có thể cứu các ngươi trong kỳ hoạn nạn, thì hãy chỗi dậy mà cứu! Hỡi Giu-đa, vì số các thần ngươi cũng bằng các thành ngươi!
29“Por que vocês querem contender comigo? Todos vocês transgrediram contra mim”, diz o SENHOR.
29Sao ngươi biện luận cùng ta? Các ngươi thảy đều đã phạm tội nghịch cùng ta, Đức Giê-hô-va phán vậy.
30“Eu castiguei os seus filhos em vão. Eles não aceitaram a correção. A sua própria espada devorou os seus profetas, como um leão destruidor.
30Ta đã đánh con cái các ngươi là vô ích: chúng nó chẳng chịu sự dạy dỗ. Gươm các ngươi đã nuốt các kẻ tiên tri mình, như sư tử phá hại.
31Ó geração, considere a palavra do SENHOR. Acaso tenho sido um deserto para Israel? Ou uma terra de densas trevas? Por que o meu povo diz: ‘Nós nos libertamos. Não viremos mais a ti’?
31Hỡi dòng dõi nầy! Hãy rõ lời Đức Giê-hô-va phán: Ta há là một đồng vắng hay là một đất tối tăm mờ mịt cho dân Y-sơ-ra-ên sao? Làm sao dân ta có nói rằng: chúng tôi đã buông tuồng, không đến cùng Ngài nữa?
32“Pode uma virgem esquecer-se dos seus enfeites, ou uma noiva do seu vestido? Contudo, o meu povo se esqueceu de mim por dias sem fim.
32Con gái đồng trinh há quên đồ trang sức mình, nàng dâu mới há quên áo đẹp của mình sao? Nhưng dân ta đã quên ta từ những ngày không tính ra được.
33Como você prepara bem o seu caminho para buscar o amor! Por isso, você até ensinou os seus caminhos às mulheres perversas.
33Sao ngươi cứ dọn đường mình để tìm tình ái! đến nỗi đã dạy cho những đàn bà xấu nết theo lối mình.
34Também nas suas saias se encontra o sangue das almas dos pobres inocentes. Você não os flagrou arrombando, mas é por causa de todas essas coisas.
34Nơi vạt áo ngươi cũng đã thấy máu của kẻ nghèo nàn vô tội, chẳng phải vì cớ nó đào ngạch, bèn là vì cớ mọi điều đó.
35“Ainda assim você disse: ‘Eu sou inocente. Certamente a sua ira se desviou de mim.’ “Eis que eu a julgarei, porque você diz: ‘Eu não pequei.’
35Ngươi lại còn nói rằng: Tôi là vô tội, thật cơn giận của Ngài lìa khỏi tôi! Nầy, vì ngươi nói rằng: Tôi không có tội, ừ, ta sẽ đoán xét ngươi.
36Por que você vagueia tanto para mudar os seus caminhos? Você também se envergonhará do Egito, como se envergonhou da Assíria.
36Sao ngươi chạy mau để đổi đường ngươi? Xưa kia ngươi xấu hổ về A-si-ri, nay cũng sẽ xấu hổ về Ê-díp-tô.
37Você também sairá daquele lugar com as mãos sobre a cabeça; pois o SENHOR rejeitou aqueles em quem você confia, e você não prosperará com eles.
37Ngươi sẽ chấp tay lên trên đầu, mà đi ra từ nơi đó. Vì Đức Giê-hô-va duồng bỏ những kẻ mà ngươi trông cậy, ngươi sẽ chẳng được thạnh vượng gì bởi chúng nó.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.