Ieremia
Chapter 18
Baibala Hemolele (Hawaii…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1O KA olelo i hiki mai io Ieremia la mai o Iehova mai, i ka i ana mai,
1Lời của Đức Giê-hô-va phán cho Giê-rê-mi như vầy:
2E ku iluna, a e iho ilalo i ka hale o ka potera, a malaila e mea aku au, a e lohe oe i ka'u mau olelo.
2Ngươi khá chờ dậy, xuống trong nhà thợ gốm kia, tại đó ta sẽ cho ngươi nghe lời ta.
3Alaila, iho aku la au ilalo i ka hale o ka potera, a aia hoi, e hana ana oia i ka hana maluna o na kaa.
3Tôi bèn xuống trong nhà thợ gốm, nầy, nó đang nắn đồ trên cái bàn xây.
4A o ka ipu ana i hana'i no ka lepo, ino iho la no ia iloko o ka lima o ka potera. Alaila, hana hou iho la no oia i ipu e, e like me ka makemake o ka potera e hana.
4Cái bình đã nắn ra bằng đất sét bị hư trong tay người thợ gốm, thì nó lấy mà nắn cái bình khác, tùy ý mình muốn làm.
5Alaila, hiki mai la ka olelo o Iehova ia'u, i mai la,
5Bấy giờ, có lời Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng:
6E ko ka hale o ka Iseraela, aole anei e hiki ia'u ke hana e like me keia potera, wahi a Iehova? Aia hoi, e like me ka lepo iloko o ka lima o ka potera, pela no oukou iloko o ko'u lima, e ko ka hale o ka Iseraela.
6Đức Giê-hô-va phán: Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, ta đối với các ngươi há chẳng làm được như người thợ gốm hay sao? Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, đất sét ở trong tay thợ gốm thể nào, thì các ngươi cũng ở trong tay ta thể ấy.
7I ka wa a'u e olelo ai no kekahi lahuikanaka, a no kekahi aupuni, e uhuki, e wawahi, a e luku iho;
7Trong lúc nào ta sẽ nói về một dân một nước kia đặng nhổ đi, hủy đi, diệt đi;
8O kela lahuikanaka a'u i hoohewa aku ai, ina i huli lakou, mai ko lakou hewa mai, alaila, e mihi no wau i ka hewa a'u i manao ai e hana ia lakou.
8nếu nước mà ta nói đó xây bỏ điều ác mình, thì ta sẽ đổi ý ta đã toan giáng tai họa cho nó.
9A i ka wa a'u e olelo ai no kekahi lahuikanaka, a no kekahi aupuni, e kukulu, a e hookupaa;
9Cũng có lúc nào ta sẽ nói về một dân một nước kia đặng dựng nó, trồng nó;
10Ina e hana hewa ia imua o ko'u alo, a hoolohe ole i ko'u leo, alaila, e mihi no wau i ka maikai a'u i olelo ai e hoopomaikai aku ia lakou.
10nếu nước ấy làm điều ác trước mắt ta và không nghe tiếng ta, thì ta sẽ đổi ý ta đã định xuống phước cho nó.
11Ano la hoi, e olelo aku oe i kanaka o ka Iuda, a i ka poe e noho la ma Ierusalema, e i aku, Ke olelo mai nei o Iehova penei, Aia hoi, ke hana nei au i ka hewa ia oukou; ke noonoo nei hoi i manao ku e ia oukou. E hoi mai oukou, ano la, o kela mea, o keia mea, mai kona aoao hewa mai, a e hoomaikai i ko oukou aoao a me ka oukou hana ana.
11Vậy nên bây giờ, hãy nói cùng người Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem, bảo họ rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta đang gây tai vạ đánh các ngươi, đặt mưu kế hại các ngươi. Ai nầy khá dạy lại khỏi đường ác mình, chữa đường lối mình và công việc mình!
12I mai la lakou, Makekewa; e hele no makou mamuli o ko makou manao iho, a e hana no kela mea keia mea o makou ma ka paakiki o kona naau hewa.
12Nhưng họ nói rằng: Khéo mất công! Chúng ta cứ theo mưu mình; ai nấy sẽ theo sự cứng cỏi của lòng xấu mình.
13Nolaila, ko olelo mai nei o Iehova penei, E ninau oukou iwaena o ko na aina e, Owai ka mea i lohe i na mea e like me ia? Ua hana no ka wahine puupaa o ka Iseraela i ka mea hoopailua loa.
13Vậy nên, Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy hỏi trong các nước có ai đã hề nghe sự như vậy không? Gái đồng trinh của Y-sơ-ra-ên đã làm việc đáng gớm.
14E haalele anei ka hau ia Lebanona no na pohaku o ke kula, e kiolaia anei na wai huihui e kahe ana mai kahi e mai?
14Có ai thấy tuyết của Li-ban lìa bỏ vần đá nơi đồng bằng chăng? Hay là có ai thấy nước sông mát từ xa chảy đến mà cạn tắt đi chăng?
15No ka mea, ua hoopoina ko'u poe kanaka ia'u; ua kuni lakou i ka mea ala no ka lapuwale, a ua hoohina ia lakou ma ko lakou kuamoo, na kuamoo kahiko, e hele ma na kuamoo e, ma ke kuamoo i hoouka ole ia:
15Thế mà dân ta đã quên ta; đốt hương cho thần tượng giả dối. Vì vậy, nó đã vấp ngã trong đường mình, trong nẻo cũ, đặng đi trong đường chưa dọn đắp.
16I lilo ko lakou aina i neoneo, i mea hoowahawaha mau loa ia. E kahaha auauei na mea a pau e hele ae malaila, a e kunokunou i kona poo.
16Nên đất nó trở nên gở lạ, làm trò cười mãi mãi; kẻ qua người lại đều sững sờ và lắc đầu.
17E hoopuehu aku au ia lakou imua o ka enemi, me ka makani mai ka hikina mai; e hoike aku au ia lakou i ke kua, aole i ka maka, i ka la o ko lakou popilikia.
17Ta sẽ làm cho nó tan lạc trước mặt kẻ thù, như bởi trận gió đông; ta xây lưng lại đằng nó, chẳng xây mặt lại trong ngày nó bị tai nạn.
18Alaila, olelo mai la lakou, E hele mai, e imi hala kakou no Ieremia, no ka mea, aole e haule ke kanawai i ke kahuna, aole hoi ka manao akamai i ka poe akamai, a me ka olelo hoi i ke kaula. E hele mai, e hahau kakou ia ia i ke alelo; mai hoolohe kakou i kekahi o kana mau olelo.
18Chúng nó bèn nói rằng: Hãy đến, đồng lập mưu nghịch cùng Giê-rê-mi; vì thầy tế lễ chẳng thiếu gì luật pháp, người khôn ngoan chẳng thiếu gì sự khôn ngoan, đấng tiên tri chẳng thiếu gì lời tiên tri. Chúng ta hãy đến, lấy miệng lưỡi mình mà công kích nó, đừng để tai vào lời nó nói chút nào.
19E haliu mai oe ia'u, e Iehova, a e hoolohe i ka leo o ka poe hakaka me au.
19Hỡi Đức Giê-hô-va, xin vì tôi ghé tai nghe những lời của kẻ cãi lẫy với tôi!
20E hoihoi ia anei ka hewa no ka maikai? No ka mea, ua kohi lakou i lua no ko'u ola. E hoomanao oe i ko'u ku ana imua ou, e olelo i ka maikai no lakou, e hoohuli aku i kou inaina mai o lakou aku.
20Người ta có lẽ nào lấy ác báo thiện sao? vì họ đã đào hầm đặng hại linh hồn tôi. Xin Ngài nhớ rằng tôi từng đứng trước mặt Ngài đặng vì họ cầu phước, làm cho cơn giận Ngài xây khỏi họ.
21Nolaila, e haawi aku oe i ka lakou keiki no ka wi, a e haawi ia lakou e make i ka ikaika o ka pahikaua. E hooneleia hoi ka lakou wahine i ka lakou keiki, a lilo lakou i wahinekanemake; e haawi hoi i ko lakou poe kanaka i ka make, a me ko lakou kanaka opiopio no ka lukuia i ka pahikaua, ma ka hoouka kaua ana.
21Vậy nên, xin Ngài phó con cái họ cho sự đói kém, và chính mình họ cho quyền gươm dao. Nguyền cho vợ họ mất con và trở nên góa bụa, cho chồng bị chết dịch, cho những người trai tráng bị gươm đánh giữa trận mạc.
22E loheia ka hea ana, mai ko lakou hale mai, i ka wa au e hoopuka mai ai i poe kaua maluna o lakou me ka hoohikilele; no ka mea, ua kohi lakou i lua, e hoopaa ia'u, a ua huna lakou i pahele no kuu mau wawae.
22Nguyền cho người ta nghe tiếng kêu ra từ trong nhà, khi Ngài sẽ khiến đạo quân thoạt đến xông vào họ! Vì họ đã đào hầm để sập bắt tôi, đã giấu lưới dưới chân tôi.
23Aka, ua ike no oe, e Iehova, i ko lakou manao a pau ia'u, e pepehi mai ia'u. Mai kala oe i ko lakou hala, aole hoi e holoi i ko lakou hewa, mai kou alo aku; aka, e hoohiolo ia lakou imua ou. E hana oe pela ia lakou, i ka manawa o kou inaina.
23Hỡi Đức Giê-hô-va, chính Ngài biết cả mưu chước họ nghịch cùng tôi để giết tôi. Xin đừng tha sự gian ác họ, đừng xóa tội lỗi họ khỏi mắt Ngài; nhưng cho họ vấp ngã trước mặt Ngài; xin Ngài phạt họ trong ngày nổi giận của Ngài!

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.