Римљанима
Chapter 9

Римљанима

Daničić–Karadžić Bible (…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Римљанима 9

Daničić–Karadžić Bible (1868), Cyrillic
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Истину говорим тако ми Христа, не лажем, то ми сведочи савест моја Духом Светим:
1Tôi nói thật trong Đấng Christ, tôi không nói dối, lương tâm tôi làm chứng cho tôi bởi Đức Thánh Linh:
2Да ми је врло жао и срце ме моје боли без престанка;
2tôi buồn bực lắm, lòng tôi hằng đau đớn.
3јер бих желео да ја сам будем одлучен од Христа за браћу своју која су ми род по телу,
3Bởi tôi ước ao có thể chính mình bị dứt bỏ, lìa khỏi Đấng Christ, vì anh em bà con tôi theo phần xác,
4која су Израиљци, којих је посинаштво и слава, и завет и закон, и богомољство, и обећања;
4tức là dân Y-sơ-ra-ên, là dân được những sự làm con nuôi, sự vinh hiển, lời giao ước, luật pháp, sự thờ phượng và lời hứa;
5којих су и оци, и од којих је Христос по телу, који је над свима, Бог благословен ва век. Амин.
5là dân sanh hạ bởi các tổ phụ, và theo phần xác, bởi dân ấy sanh ra Đấng Christ, là Đấng trên hết mọi sự, tức là Đức Chúa Trời đáng ngợi khen đời đời. A-men.
6А није могуће да реч Божија прође: јер нису сви Израиљци који су од Израиља;
6Aáy chẳng phải lời Đức Chúa Trời là vô ích. Vì những kẻ bởi Y-sơ-ra-ên sanh hạ, chẳng phải vì đó mà hết thảy đều là người Y-sơ-ra-ên.
7нити су сви деца који су семе Авраамово, него у Исаку, рече, назваће ти се семе.
7cũng không phải vì là dòng dõi của Aùp-ra-ham thì hết thảy đều là con cái người; nhưng có chép rằng: Aáy là bởi Y-sác mà ngươi sẽ có một dòng dõi gọi theo tên ngươi;
8То јест, нису оно деца Божија што су по телу деца, него деца обећања примају се за семе.
8nghĩa là chẳng phải con cái thuộc về xác thịt là con cái Đức Chúa Trời, nhưng con cái thuộc về lời hứa thì được kể là dòng dõi Aùp-ra-ham vậy.
9Јер је ово реч обећања: У ово време доћи ћу и у Саре ће бити син.
9Vả, lời nầy thật là một lời hứa: Cũng k” nầy ta sẽ lại đến, Sa-ra sẽ có một con trai.
10Не само, пак, она него и Ревека, кад затрудне од самог Исака, оца нашег.
10Nào những thế thôi, về phần Rê-be-ca, khi bà ấy bởi tổ phụ chúng ta là Y-sác mà có thai đôi cũng vậy.
11Јер још док се деца не беху родила, ни учинила добра ни зла, да остане Божија наредба по избору,
11Vì, khi hai con chưa sanh ra, chưa làm điều chi lành hay dữ-hầu cho được giữ vững ý chỉ Đức Chúa Trời, là ý định sẵn bởi sự kén chọn tự do của Ngài, chẳng cứ việc làm, nhưng cứ Đấng kêu gọi-
12не за дела, него Оног ради који позива рече јој се: Већи ће служити мањем,
12thì có lời phán cho mẹ của hai con rằng: Đứa lớn sẽ làm tôi đứa nhỏ;
13као што стоји написано: Јаков ми омиле, а на Исава омрзох.
13như có chép rằng: Ta yêu Gia-cốp và ghét Ê-sau.
14Шта ћемо, дакле, на то рећи? Еда ли је неправда у Бога? Боже сачувај!
14Vậy chúng ta sẽ nói làm sao? Có sự không công bình trong Đức Chúa Trời sao? Chẳng hề như vậy!
15Јер Мојсију говори: Кога ћу помиловати, помиловаћу, и на кога ћу се смиловати, смиловаћу се.
15Vì Ngài phán cùng Môi-se rằng: Ta sẽ làm ơn cho kẻ ta làm ơn, ta sẽ thương xót kẻ ta thương xót.
16Тако, дакле, нити стоји до оног који хоће, ни до оног који трчи, него до Бога који помилује.
16Vậy điều đó chẳng phải bởi người nào ao ước hay người nào bôn ba mà được, bèn là bởi Đức Chúa Trời thương xót.
17Јер писмо говори Фараону: Зато те исто подигох да на теби покажем силу своју, и да се разгласи име моје по свој земљи.
17Trong Kinh Thánh cũng có phán cùng Pha-ra-ôn rằng: Nầy là cớ vì sao ta đã dấy ngươi lên, ấy là để tỏ quyền phép ta ra trong ngươi, hầu cho danh ta được truyền ra khắp đất.
18Тако, дакле, кога хоће милује, а кога хоће отврдоглави.
18Như vậy, Ngài muốn thương xót ai thì thương xót, và muốn làm cứng lòng ai thì làm.
19Рећи ћеш ми: Зашто нас још криви? Јер ко се може супротити вољи Његовој?
19Vậy thì ngươi sẽ hỏi ta rằng: Sao Ngài còn quở trách? Vì có ai chống lại ý muốn Ngài được chăng?...
20А ко си ти, о човече! Да противно одговараш Богу? Еда ли рукотворина говори мајстору свом: Зашто си ме тако начинио?
20Nhưng, hỡi người, ngươi là ai, mà dám cãi lại cùng Đức Chúa Trời? Có lẽ nào cái bình bằng đất sét lại nói với kẻ nắn nên mình rằng: Sao ngươi đã làm nên ta như vậy?
21Или зар лончар нема власти над калом да од једне гуке начини један суд за част а други за срамоту?
21Người thợ gốm há chẳng có quyền trên đất sét, cùng trong một đống mà làm ra hạng bình để dùng việc sang trọng, lại hạng khác để dùng việc hèn hạ sao?
22А кад хтеде Бог да покаже гнев свој и да објави силу своју, поднесе с великим трпљењем судове гнева који су приправљени за погибао.
22Nếu Đức Chúa Trời muốn tỏ ra cơn thạnh nộ và làm cho biết quyền phép Ngài, đã lấy lòng khoan nhẫn lớn chịu những bình đáng giận sẵn cho sự hư mất,
23И да покаже богатство славе своје на судима милости које приправи за славу;
23để cũng làm cho biết sự giàu có của vinh hiển Ngài bởi những bình đáng thương xót mà Ngài đã định sẵn cho sự vinh hiển, thì còn nói chi được ư?
24које нас и дозва не само од Јевреја него и од незнабожаца,
24Đó tôi nói về chúng ta, là kẻ Ngài đã gọi, chẳng những từ trong người Giu-đa, mà cũng từ trong dân ngoại nữa.
25као што и у Јосији говори: Назваћу народ својим који није мој народ, и нељубазницу љубазницом.
25Như Ngài phán trong sách Ô-sê rằng: Ta sẽ gọi kẻ chẳng phải dân ta là dân ta, Kẻ chẳng được yêu dấu là yêu dấu;
26И биће на месту, где им се рече: Ви нисте мој народ; тамо ће се назвати синови Бога Живога.
26Lại xảy ra trong nơi Ngài phán cùng họ rằng: Các ngươi chẳng phải là dân ta đâu, Cũng tại nơi đó họ sẽ được xưng là con của Đức Chúa Trời hằng sống.
27А Исаија виче за Израиља: Ако буде број синова Израиљевих као песак морски, остатак ће се спасти.
27Còn Ê-sai nói về dân Y-sơ-ra-ên mà kêu lên rằng: Dầu số con cái Y-sơ-ra-ên như cát dưới biển, chỉ một phần sót lại sẽ được cứu mà thôi;
28Јер ће Он извршити реч своју, и наскоро ће извршити по правди, да, испуниће Господ наскоро реч своју на земљи.
28vì Chúa sẽ làm ứng nghiệm lời Ngài cách trọn vẹn và vội vàng trên đất.
29И као што прорече Исаија: Да нам није Господ Саваот оставио семена, онда бисмо били као Содом и Гомор.
29Lại như Ê-sai đã nói tiên tri rằng: Nếu Chúa vạn quân chẳng để lại một cái mầm của dòng giống chúng ta, Thì chúng ta đã trở nên như thành Sô-đôm và giống như thành Gô-mô-rơ vậy.
30Шта ћемо, дакле, рећи? Да незнабошци који не тражише правде докучише правду, али правду од вере.
30Vậy chúng ta sẽ nói làm sao? Những dân ngoại chẳng tìm sự công bình, thì đã được sự công bình, nhưng là sự công bình đến bởi đức tin;
31А Израиљ тражећи закон правде не докучи закон правде.
31còn như dân Y-sơ-ra-ên tìm luật pháp của sự công bình, thì không đạt đến luật pháp ấy.
32Зашто? Јер не тражи из вере него из дела закона; јер се спотакоше на камен спотицања,
32Tại sao? Tại họ chẳng bởi đức tin mà tìm, nhưng bởi việc làm. Họ đã vấp phải hòn đá ngăn trở,
33као што стоји написано: Ево мећем у Сиону камен спотицања и стену саблазни; и који га год верује неће се постидети.
33như có chép rằng: Nầy ta để tại Si-ôn một hòn đá ngăn trở, tức là hòn đá lớn làm cho vấp ngã; Hễ ai tin đến thì khỏi bị hổ thẹn.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.