Исая
Chapter 36
Cornilescu Bible (1924),…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Cornilescu Bible (1924), Cyrillic script
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Ын ал пайспрезечеля ан ал ымпэратулуй Езекия, Санхериб, ымпэратул Асирией, с-а суит ымпотрива тутурор четэцилор ынтэрите але луй Иуда ши ле-а луат.
1Năm thứ mười bốn đời vua Ê-xê-chia, thì San-chê-ríp, vua A-si-ri, đến đánh các thành bền vững của Giu-đa và chiếm lấy.
2Ши ымпэратул Асирией а тримис дин Лакис ла Иерусалим, ла ымпэратул Езекия, пе Рабшаке, ку о путерникэ оштире. Рабшаке с-а оприт ла каналул де апэ ал язулуй де сус, пе друмул огорулуй ынэлбиторулуй.
2Đoạn, vua A-si-ri sai Ráp-sa-kê với đạo binh lớn từ La-ki đến Giê-ru-sa-lem, nghịch cùng vua Ê-xê-chia; Ráp-sa-kê đứng tại cống ao trên, nơi đường cái ruộng thợ nện.
3Атунч Елиаким, фиул луй Хилкия, кэпетения касей ымпэратулуй, с-а дус ла ел, ку логофэтул Шебна ши ку Иоах, фиул луй Асаф, скрииторул (архиварул).
3Bấy giờ, Ê-li-a-kim, con trai của Hinh-kia, làm chức cung giám, đi với thơ ký Sép-na, và sử quan Giô-a, con trai của A-sáp, mà đến cùng người.
4Рабшаке ле-а зис: „Спунець луй Езекия: ‘Аша ворбеште мареле ымпэрат, ымпэратул Асирией: «Че есте ынкредеря ачаста пе каре те бизуешть?
4Ráp-sa-kê nói với ba người rằng: Hãy tâu cùng vua Ê-xê-chia rằng: Đấng đại vương, tức là vua A-si-ri, phán như vầy: Sự trông cậy mà ngươi nương dựa là gì?
5Еу ыць спун кэ ачестя сунт ворбе ын вынт; пентру рэзбой требуе кибзуинцэ ши путере. Ын чине ць-ай пус дар ынкредеря, де те-ай рэскулат ымпотрива мя?
5Ta nói rằng: mưu và sức ngươi dùng mà giao chiến chỉ là lời vô ích mà thôi! Vậy ngươi cậy ai mà dám làm phản ta?
6Ятэ, ай пус-о ын Еӂипт, ай луат ка сприжин ачастэ трестие руптэ, каре ынцяпэ ши стрэпунӂе мына орькуй се сприжинэ пе еа! Аша есте Фараон, ымпэратул Еӂиптулуй, пентру тоць чей че се ынкред ын ел.
6Nầy, ngươi cậy Ê-díp-tô, ngươi lấy cây sậy đã gãy ấy làm gậy, là cây mà ai dựa vào thì nó đâm phủng tay. Pha-ra-ôn, vua Ê-díp-tô, đối với kẻ trông cậy mình cũng là thể ấy.
7Дар поате кэ ымь вей спуне: ‹Не ынкредем ын Домнул Думнезеул ностру!› Дар ну есте Ел Ачела але кэруй ынэлцимь ши алтаре ле-а ындепэртат Езекия, зикынд луй Иуда ши Иерусалимулуй: ‹Сэ вэ ынкинаць ынаинтя ачестуй алтар›?»’
7Có lẽ các ngươi bảo ta rằng: Chúng ta cậy Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta; nhưng ấy chẳng phải là Đấng mà Ê-xê-chia đã bỏ các nơi cao và các bàn thờ Ngài, khi truyền cho Giu-đa và Giê-ru-sa-lem rằng: Các ngươi khá thờ lạy trước bàn thờ nầy hay sao?
8Акум фэ о ынвоялэ ку стэпынул меу, ымпэратул Асирией, ши-ць вой да доуэ мий де кай; сэ ведем дакэ поць фаче рост де кэлэрець ка сэ ынкалече пе ей!
8Vậy bây giờ, hãy đưa con tin cho chủ ta, là vua A-si-ri. Nếu ngươi tìm được đủ lính kỵ, thì ta sẽ cấp cho hai ngàn con ngựa.
9Кум ай путя сэ стай ту ымпотрива уней сингуре кэпетений динтре чей май неынсемнаць служиторь ай стэпынулуй меу? Ши тотушь ту ыць пуй ынкредеря ын Еӂипт пентру каре ши пентру кэлэрець.
9Nhưng tài nào ngươi sẽ đuổi được lấy một quan tướng rất kém trong các tôi tớ chủ ta hay sao? Mà ngươi cậy Ê-díp-tô để tìm xe binh và lính kỵ!
10Ши апой, фэрэ воя Домнулуй м-ам суит еу ымпотрива цэрий ачестея с-о нимическ? Домнул мь-а зис: ‘Суе-те ымпотрива цэрий ачестея ши нимичеште-о!’”
10Vả lại, há không có mạng của Đức Giê-hô-va mà ta lên đánh xứ nầy để diệt nó sao? Đức Giê-hô-va đã phán cùng ta rằng: Hãy lên đánh xứ nầy và diệt đi!
11Елиаким, Шебна ши Иоах ау зис луй Рабшаке: „Ворбеште робилор тэй ын лимба арамаикэ, фииндкэ о ынцелеӂем; ну не ворби ын лимба евреяскэ, ын аузул попорулуй каре есте пе зид.”
11Ê-li-a-kim, cùng Sép-na và Giô-a bảo Ráp-sa-kê rằng: Xin nói với tôi tớ ông bằng tiếng A-ram, vì chúng tôi hiểu tiếng ấy. Song đừng lấy tiếng Giu-đa nói cùng chúng tôi, cho dân nầy đang ở trên tường thành nó nghe.
12Рабшаке а рэспунс: „Оаре стэпынулуй тэу ши цие м-а тримис стэпынул меу сэ спун ачесте кувинте? Ну м-а тримис ел сэ ле спун оаменилор ачестора каре шед пе зид ка сэ-шь мэнынче балега ши сэ-шь бя удул ымпреунэ ку вой?”
12Ráp-sa-kê nói: Chủ ta sai ta truyền mấy lời đó, nào những cho chủ ngươi và cho ngươi ư? Há chẳng cũng truyền cho những người ngồi trên tường thành, là kẻ sắp phải cùng với các ngươi ăn phân uống tiểu mình ư?
13Апой Рабшаке а ынаинтат ши а стригат ку тоатэ путеря луй ын лимба евреяскэ: „Аскултаць кувинтеле марелуй ымпэрат, ымпэратул Асирией!
13Đoạn, Ráp-sa-kê đứng dậy, dùng tiếng Giu-đa mà nói to lên rằng: Hãy nghe lời phán của đại vương, là vua A-si-ri.
14Аша ворбеште ымпэратул: ‘Ну вэ лэсаць амэӂиць де Езекия, кэч ну ва путя сэ вэ избэвяскэ!
14Vua phán như vầy: Các ngươi chớ để vua Ê-xê-chia lừa dối mình; vì người chẳng có thể cứu các ngươi.
15Ну вэ лэсаць мынгыяць де Езекия ку ынкредеря ын Домнул, кынд вэ зиче: «Домнул не ва избэви ши четатя ачаста ну ва фи датэ ын мыниле ымпэратулуй Асирией.»’
15Cũng chớ để vua Ê-xê-chia khuyên các ngươi trông cậy Đức Giê-hô-va mà rằng: Đức Giê-hô-va chắc sẽ cứu chúng ta, và thành nầy sẽ chẳng phó vào tay vua A-si-ri đâu!
16Ну аскултаць пе Езекия, кэч аша ворбеште ымпэратул Асирией: ‘Фачець паче ку мине, супунеци-вэ мие ши фиекаре дин вой ва мынка дин вия луй ши дин смокинул луй ши ва бя апэ дин фынтына луй
16Chớ nghe vua Ê-xê-chia; vì vua A-si-ri phán như vầy: Hãy hòa với ta, và ra hàng đi, thì các ngươi ai nấy sẽ được ăn trái nho trái vả của mình, uống nước giếng mình,
17пынэ вой вени ши вэ вой луа ынтр-о царэ ка а воастрэ, ынтр-о царэ плинэ де грыу ши де вин, о царэ плинэ де пыне ши де вий!
17cho tới chừng ta đến, đặng đem các ngươi vào một xứ như xứ các ngươi, tức là xứ có mạch nha và rượu mới, lúa mì và nho.
18Ну вэ лэсаць амэӂиць де Езекия, кынд вэ зиче: «Домнул не ва избэви.» Оаре думнезеий нямурилор ау избэвит ей фиекаре цара луй дин мына ымпэратулуй Асирией?
18Vậy, hãy giữ mình kẻo vua Ê-xê-chia dỗ dành các ngươi mà rằng: Đức Giê-hô-va sẽ giải cứu chúng ta! Vậy chớ các thần của các nước khác đã giải cứu xứ họ khỏi tay vua A-si-ri được chăng?
19Унде сунт думнезеий Хаматулуй ши Арпадулуй? Унде сунт думнезеий дин Сефарваим? Ши унде сунт думнезеий Самарией? Ау избэвит ей Самария дин мына мя?
19Nào các thần của Ha-mát và của Aït-bát đâu tá? Nào các thần của Sê-phạt-va-im đâu tá? Các thần ấy đã cứu Sa-ma-ri ra khỏi tay ta chưa?
20Динтре тоць думнезеий ачестор цэрь, каре дин ей шь-а избэвит цара дин мына мя, пентру ка Домнул сэ избэвяскэ Иерусалимул дин мына мя?’”
20Trong những thần của các xứ đó, có thần nào là thần đã cứu xứ mình ra khỏi tay ta? Mà Đức Giê-hô-va có thể cứu Giê-ru-sa-lem khỏi tay ta được!
21Дар ей ау тэкут ши ну й-ау рэспунс о ворбэ, кэч ымпэратул дэдусе порунка ачаста: „Сэ ну-й рэспундець!”
21Chúng làm thinh, chẳng đáp lại một lời, vì vua có truyền lịnh rằng: Các ngươi đừng đáp lại.
22Ши Елиаким, фиул луй Хилкия, кэпетения касей ымпэратулуй, Шебна, логофэтул, ши Иоах, фиул луй Асаф, скрииторул, ау венит астфел ла Езекия ку хайнеле сфышияте ши й-ау спус кувинтеле луй Рабшаке.
22Ê-li-a-kim, con trai của Hinh-kia, làm chức cung giám, cùng thơ ký Sép-na, sử quan Giô-a, con trai của A-sáp, xé áo mình ra, trở về chầu vua Ê-xê-chia, và thuật lại những lời của Ráp-sa-kê.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.