Gi 6
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Freedom Bible (Thai)
1Rồi đó, Đức Chúa Jêsus qua bờ bên kia biển Ga-li-lê, là biển Ti-bê-ri-át.
1หลังจากนั้น พระเยซูไปอีกฝั่งหนึ่งของทะเลกาลิลี ซึ่งเรียกอีกชื่อหนึ่งว่าทะเลทิเบเรียส
2Một đoàn dân đông theo Ngài, vì từng thấy các phép lạ Ngài làm cho những kẻ bịnh.
2ฝูงชนจำนวนมากติดตามพระองค์ เพราะพวกเขาเห็นหมายสำคัญที่พระองค์ทำแก่คนป่วย
3Nhưng Đức Chúa Jêsus lên trên núi, ngồi đó với môn đồ.
3พระเยซูขึ้นไปบนภูเขา และนั่งอยู่ที่นั่นกับสาวกของพระองค์
4Vả, lễ Vượt Qua, là lễ của dân Giu-đa gần tới.
4ขณะนั้น เทศกาลปัสกา ซึ่งเป็นเทศกาลของชาวยิว ใกล้เข้ามาแล้ว
5Đức Chúa Jêsus ngước mắt lên, thấy một đoàn dân đông đến cùng mình, bèn phán với Phi-líp rằng: Chúng ta sẽ mua bánh ở đâu, để cho dân nầy có mà ăn?
5พระเยซูเงยหน้าขึ้นและเห็นฝูงชนจำนวนมากกำลังมาหาพระองค์ จึงถามฟีลิปว่า “พวกเราจะซื้อขนมปังจากที่ไหนให้คนเหล่านี้กิน?”
6Ngài phán điều đó đặng thử Phi-líp, chớ Ngài đã biết điều Ngài sẽ làm rồi.
6พระองค์ถามเช่นนี้เพื่อทดสอบเขา เพราะพระองค์เองรู้อยู่แล้วว่าจะทำอะไร
7Phi-líp thưa rằng: Hai trăm đơ-ni-ê bánh không đủ phát cho mỗi người một ít.
7ฟีลิปตอบพระองค์ว่า “ขนมปังราคาสองร้อยเดนาริอุส ก็ยังไม่พอให้แต่ละคนได้กินแม้เพียงเล็กน้อย”
8Một môn đồ, là Anh-rê, em của Si-môn Phi-e-rơ, thưa rằng:
8สาวกคนหนึ่งของพระองค์ คืออันดรูว์น้องชายของซีโมนเปโตร กล่าวกับพระองค์ว่า
9Đây có một đứa con trai, có năm cái bánh mạch nha và hai con cá; nhưng đông người dường nầy, thì ngằn ấy có thấm vào đâu?
9“ที่นี่มีเด็กชายคนหนึ่ง มีขนมปังข้าวบาร์เลย์ห้าก้อนกับปลาสองตัว แต่แค่นี้จะพออะไรกับคนมากขนาดนี้?”
10Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Hãy truyền cho chúng ngồi xuống. Vả, trong nơi đó có nhiều cỏ. Vậy, chúng ngồi xuống, số người ước được năm ngàn.
10พระเยซูกล่าวว่า “ให้คนเหล่านั้นนั่งลง” ที่บริเวณนั้นมีหญ้ามาก พวกเขาจึงนั่งลง มีผู้ชายประมาณห้าพันคน
11Đức Chúa Jêsus lấy bánh, tạ ơn rồi, bèn phân phát cho những kẻ đã ngồi; Ngài cũng lấy cá phát cho chúng nữa, ai muốn bao nhiêu mặc ý.
11พระเยซูหยิบขนมปังขึ้นมา กล่าวคำขอบคุณ แล้วแจกให้สาวก และสาวกก็แจกให้คนที่นั่งอยู่ พระองค์ทำเช่นเดียวกันกับปลา ให้พวกเขามากเท่าที่ต้องการ
12Khi chúng đã ăn được no nê, Ngài phán với môn đồ rằng: Hãy lượm những miếng còn thừa, hầu cho không mất chút nào.
12เมื่อทุกคนกินอิ่มแล้ว พระองค์กล่าวกับสาวกว่า “เก็บเศษที่เหลือไว้ อย่าให้อะไรสูญเปล่า”
13Vậy, môn đồ lượm những miếng thừa của năm cái bánh mạch nha, sau khi người ta đã ăn rồi, chứa đầy mười hai giỏ.
13พวกเขาจึงเก็บเศษขนมปังข้าวบาร์เลย์ห้าก้อนที่เหลือจากคนที่กิน ได้เต็มสิบสองตะกร้า
14Những người đó thấy phép lạ Đức Chúa Jêsus đã làm, thì nói rằng: Người nầy thật là Đấng tiên tri phải đến thế gian.
14เมื่อผู้คนเห็นหมายสำคัญที่พระเยซูทำ พวกเขาพูดว่า “ท่านผู้นี้เป็นผู้เผยพระวจนะที่จะมาในโลกอย่างแท้จริง”
15Bấy giờ Đức Chúa Jêsus biết chúng có ý đến ép Ngài để tôn làm vua, bèn lui ở một mình trên núi.
15พระเยซูรู้ว่าพวกเขากำลังจะมาจับพระองค์ไปตั้งเป็นกษัตริย์โดยใช้กำลัง จึงหลบขึ้นไปบนภูเขาตามลำพังอีกครั้ง
16Đến chiều, môn đồ xuống nơi bờ biển,
16เมื่อถึงเวลาเย็น สาวกของพระองค์ลงไปที่ทะเล
17và vào trong một chiếc thuyền, sang thẳng bờ bên kia, hướng về thành Ca-bê-na-um. Trời chợt tối, mà Đức Chúa Jêsus còn chưa đến cùng các môn đồ.
17พวกเขาลงเรือและออกเดินทางข้ามทะเลไปยังคาเปอรนาอุม ตอนนั้นมืดแล้ว และพระเยซูยังไม่ได้มาหาพวกเขา
18Gió thổi ào ào, đến nỗi biển động dữ dội.
18ทะเลมีคลื่นแรง เพราะมีลมแรงพัดอยู่
19Khi các môn đồ đã chèo ra độ chừng hai mươi lăm hay là ba mươi ếch-ta-đơ, thấy Đức Chúa Jêsus đi trên mặt biển, gần tới chiếc thuyền, thì sợ hãi.
19เมื่อพวกเขาพายเรือไปได้ประมาณยี่สิบห้าถึงสามสิบสตาเดีย พวกเขาเห็นพระเยซูกำลังเดินอยู่บนทะเล และเข้ามาใกล้เรือ พวกเขาก็กลัว
20Nhưng Ngài phán rằng: Aáy là ta đây, đừng sợ chi!
20แต่พระองค์กล่าวกับพวกเขาว่า “เราเอง อย่ากลัว”
21Bấy giờ, môn đồ muốn rước Ngài vào thuyền; tức thì chiếc thuyền đậu vào bờ, là nơi định đi.
21พวกเขาจึงเต็มใจรับพระองค์ขึ้นเรือ และทันใดนั้นเรือก็ถึงฝั่งที่พวกเขากำลังไป
22Đoàn dân ở bờ biển bên kia, đã nhận rằng ở đó chỉ có một chiếc thuyền, và Đức Chúa Jêsus không vào thuyền với môn đồ Ngài, chỉ một mình môn đồ đi mà thôi.
22วันรุ่งขึ้น ฝูงชนที่ยังอยู่อีกฝั่งของทะเลเห็นว่า ที่นั่นไม่มีเรือลำอื่น นอกจากเรือลำที่สาวกของพระองค์ขึ้นไป และเห็นว่าพระเยซูไม่ได้ลงเรือไปกับสาวก แต่สาวกของพระองค์ออกไปกันตามลำพัง
23Qua ngày sau, có mấy chiếc thuyền khác từ thành Ti-bê-ri-át lại gần nơi chúng đã ăn bánh khi Chúa tạ ơn rồi,
23แต่มีเรือหลายลำจากทิเบเรียสมาใกล้สถานที่ที่พวกเขากินขนมปัง หลังจากองค์พระผู้เป็นเจ้ากล่าวคำขอบคุณแล้ว
24đoàn dân thấy Đức Chúa Jêsus không ở đó, môn đồ cũng không, bèn vào mấy thuyền kia mà đi qua thành Ca-bê-na-um để tìm Đức Chúa Jêsus.
24เมื่อฝูงชนเห็นว่าพระเยซูไม่อยู่ที่นั่น และสาวกของพระองค์ก็ไม่อยู่ พวกเขาจึงลงเรือเหล่านั้นไปยังคาเปอรนาอุม เพื่อตามหาพระเยซู
25Chúng vừa tìm được Ngài tại bờ bên kia biển, bèn thưa rằng: Lạy thầy, thầy đến đây bao giờ?
25เมื่อพบพระองค์อีกฝั่งของทะเล พวกเขาถามว่า “รับบี ท่านมาถึงที่นี่เมื่อไร?”
26Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, các ngươi tìm ta chẳng phải vì đã thấy mấy phép lạ, nhưng vì các ngươi đã ăn bánh và được no.
26พระเยซูตอบพวกเขาว่า “เราขอยืนยันกับพวกคุณว่า พวกคุณตามหาเรา ไม่ใช่เพราะเห็นหมายสำคัญ แต่เพราะพวกคุณได้กินขนมปังจนอิ่ม
27Hãy làm việc, chớ vì đồ ăn hay hư nát, nhưng vì đồ ăn còn lại đến sự sống đời đời, là thứ Con người sẽ ban cho các ngươi; vì ấy là Con, mà Cha, tức là chính Đức Chúa Trời, đã ghi ấn tín của mình.
27อย่าทำงานเพื่ออาหารที่เสื่อมสลาย แต่จงทำงานเพื่ออาหารที่คงอยู่จนถึงชีวิตนิรันดร์ ซึ่งบุตรมนุษย์จะให้แก่พวกคุณ เพราะพระเจ้าพระบิดาได้ประทับตราพระองค์ไว้แล้ว”
28Chúng thưa rằng: Chúng tôi phải làm chi cho được làm công việc Đức Chúa Trời?
28พวกเขาจึงถามพระองค์ว่า “พวกเราต้องทำอะไร เพื่อจะทำงานของพระเจ้า?”
29Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Các ngươi tin Đấng mà Đức Chúa Trời đã sai đến, ấy đó là công việc Ngài.
29พระเยซูตอบพวกเขาว่า “งานของพระเจ้าคือให้พวกคุณเชื่อในผู้ที่พระองค์ส่งมา”
30Chúng bèn nói rằng: Thế thì thầy làm phép lạ gì, để cho chúng tôi thấy và tin? Thầy làm công việc gì?
30พวกเขาจึงถามพระองค์ว่า “แล้วท่านจะทำหมายสำคัญอะไร ให้พวกเราเห็นและเชื่อท่าน? ท่านจะทำงานอะไร?
31Tổ phụ chúng ta đã ăn ma-na trong đồng vắng, theo như lời chép rằng: Ngài đã ban cho họ ăn bánh từ trên trời xuống.
31บรรพบุรุษของพวกเรากินมานาในถิ่นทุรกันดาร ตามที่เขียนไว้ว่า ‘พระองค์ประทานขนมปังจากสวรรค์ให้พวกเขากิน’”
32Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, Môi-se chưa hề cho các ngươi bánh từ trên trời đâu; nhưng Cha ta ban cho các ngươi bánh thật, là bánh từ trên trời xuống.
32พระเยซูจึงกล่าวกับพวกเขาว่า “เราขอยืนยันกับพวกคุณว่า ไม่ใช่โมเสสที่ให้ขนมปังจากสวรรค์แก่พวกคุณ แต่พระบิดาของเราประทานขนมปังแท้จากสวรรค์แก่พวกคุณ
33Bởi chưng bánh Đức Chúa Trời là bánh từ trên trời giáng xuống, ban sự sống cho thế gian.
33เพราะขนมปังของพระเจ้าคือขนมปังที่ลงมาจากสวรรค์และให้ชีวิตแก่โลก”
34Chúng thưa rằng: Lạy Chúa, xin ban bánh đó cho chúng tôi luôn luôn!
34พวกเขาจึงกล่าวกับพระองค์ว่า “ท่าน โปรดให้ขนมปังนี้แก่พวกเราเสมอไป”
35Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta là bánh của sự sống; ai đến cùng ta chẳng hề đói, và ai tin ta chẳng hề khát.
35พระเยซูกล่าวกับพวกเขาว่า “เราคือขนมปังแห่งชีวิต ผู้ที่มาหาเราจะไม่หิว และผู้ที่เชื่อในเราจะไม่กระหายอีกเลย
36Nhưng ta đã nói: Các ngươi đã thấy ta, mà chẳng tin.
36แต่เราบอกพวกคุณแล้วว่า พวกคุณได้เห็นเราแล้ว แต่ก็ยังไม่เชื่อ
37Phàm những kẻ Cha cho ta sẽ đến cùng ta, kẻ đến cùng ta thì ta không bỏ ra ngoài đâu.
37ทุกคนที่พระบิดาประทานแก่เราจะมาหาเรา และผู้ที่มาหาเรา เราจะไม่ขับไล่ออกไปเลย
38Vì ta từ trên trời xuống, chẳng phải để làm theo ý ta, nhưng làm theo ý Đấng đã sai ta đến.
38เพราะเราลงมาจากสวรรค์ ไม่ใช่เพื่อทำตามความประสงค์ของเราเอง แต่เพื่อทำตามความประสงค์ของพระองค์ผู้ส่งเรามา
39Vả, ý muốn của Đấng đã sai ta đến là hễ sự gì Ngài đã ban cho ta, thì ta chớ làm mất, nhưng ta phải làm cho sống lại nơi ngày sau rốt.
39และนี่คือความประสงค์ของพระบิดาผู้ส่งเรามา คือเราจะไม่สูญเสียใครเลยในบรรดาผู้ที่พระองค์ประทานแก่เรา แต่จะทำให้เขาฟื้นขึ้นในวันสุดท้าย
40Đây là ý muốn của Cha ta, phàm ai nhìn Con và tin Con, thì được sự sống đời đời; còn ta, ta sẽ làm cho kẻ ấy sống lại nơi ngày sau rốt.
40เพราะนี่คือความประสงค์ของพระองค์ผู้ส่งเรามา คือทุกคนที่เห็นพระบุตรและเชื่อในพระองค์จะมีชีวิตนิรันดร์ และเราจะทำให้เขาฟื้นขึ้นในวันสุดท้าย”
41Nhưng vì Ngài đã phán: Ta là bánh từ trên trời xuống, nên các người Giu-đa lằm bằm về Ngài,
41ชาวยิวจึงบ่นพึมพำเรื่องพระองค์ เพราะพระองค์กล่าวว่า “เราคือขนมปังที่ลงมาจากสวรรค์”
42mà rằng: Aáy chẳng phải là Jêsus, con của Giô-sép, mà chúng ta đều biết cha mẹ người chăng? Vậy, thể nào người nói được rằng: Ta đã từ trên trời mà xuống?
42พวกเขาพูดว่า “คนนี้ไม่ใช่เยซูลูกของโยเซฟหรือ? พวกเรารู้จักทั้งพ่อและแม่ของเขา แล้วตอนนี้เขาพูดได้อย่างไรว่า ‘เราลงมาจากสวรรค์’?”
43Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Các ngươi chớ lằm bằm với nhau.
43พระเยซูจึงตอบพวกเขาว่า “อย่าบ่นพึมพำกันเลย
44Ví bằng Cha, là Đấng sai ta, không kéo đến, thì chẳng có ai được đến cùng ta, và ta sẽ làm cho người đó sống lại nơi ngày sau rốt.
44ไม่มีใครมาหาเราได้ เว้นแต่พระบิดาผู้ส่งเรามาจะดึงเขามา และเราจะทำให้เขาฟื้นขึ้นในวันสุดท้าย
45Các sách tiên tri có chép rằng: Ai nấy đều sẽ được Đức Chúa Trời dạy dỗ. Hễ ai đã nghe Cha và học theo Ngài thì đến cùng ta.
45มีเขียนไว้ในหนังสือของบรรดาผู้เผยพระวจนะว่า ‘พระเจ้าจะสอนพวกเขาทุกคน’ ดังนั้น ทุกคนที่ได้ยินและเรียนรู้จากพระบิดาก็มาหาเรา
46Aáy chẳng phải kẻ nào đã từng thấy Cha, trừ ra Đấng từ Đức Chúa Trời mà đến; Đấng ấy đã thấy Cha.
46ไม่ใช่ว่ามีใครเคยเห็นพระบิดา นอกจากผู้ที่มาจากพระเจ้า พระองค์ได้เห็นพระบิดา
47Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ ai tin thì được sự sống đời đời.
47เราขอยืนยันกับพวกคุณว่า ผู้ที่เชื่อในเรามีชีวิตนิรันดร์
48Ta là bánh của sự sống.
48เราคือขนมปังแห่งชีวิต
49Tổ phụ các ngươi đã ăn ma-na trong đồng vắng, rồi cũng chết.
49บรรพบุรุษของพวกคุณกินมานาในถิ่นทุรกันดาร แต่พวกเขาก็ตาย
50Đây là bánh từ trời xuống, hầu cho ai ăn chẳng hề chết.
50นี่คือขนมปังที่ลงมาจากสวรรค์ เพื่อให้ผู้ที่กินขนมปังนี้ไม่ตาย
51Ta là bánh hằng sống từ trên trời xuống; nếu ai ăn bánh ấy, thì sẽ sống vô cùng; và bánh mà ta sẽ ban cho vì sự sống của thế gian tức là thịt ta.
51เราคือขนมปังที่มีชีวิต ซึ่งลงมาจากสวรรค์ ถ้าใครกินขนมปังนี้ เขาจะมีชีวิตตลอดไป และขนมปังที่เราจะให้เพื่อชีวิตของโลกก็คือเนื้อหนังของเรา”
52Bởi đó, các người Giu-đa cãi lẽ với nhau, mà rằng: Lẽ nào người nầy lấy thịt mình cho chúng ta ăn sao?
52ชาวยิวจึงโต้เถียงกันเองว่า “คนนี้จะเอาเนื้อหนังของเขาให้พวกเรากินได้อย่างไร?”
53Đức Chúa Jêsus bèn phán cùng họ rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu các ngươi không ăn thịt của Con người, cùng không uống huyết Ngài, thì chẳng có sự sống trong các ngươi đâu.
53พระเยซูจึงกล่าวกับพวกเขาว่า “เราขอยืนยันกับพวกคุณว่า ถ้าพวกคุณไม่กินเนื้อหนังของบุตรมนุษย์และไม่ดื่มเลือดของพระองค์ พวกคุณก็ไม่มีชีวิตในตัว
54Ai ăn thịt và uống huyết ta thì được sự sống đời đời; nơi ngày sau rốt, ta sẽ khiến người đó sống lại.
54ผู้ที่กินเนื้อหนังของเราและดื่มเลือดของเรา มีชีวิตนิรันดร์ และเราจะทำให้เขาฟื้นขึ้นในวันสุดท้าย
55Vì thịt ta thật là đồ ăn, huyết ta thật là đồ uống.
55เพราะเนื้อหนังของเราเป็นอาหารอย่างแท้จริง และเลือดของเราเป็นเครื่องดื่มอย่างแท้จริง
56Người nào ăn thịt ta và uống huyết ta, thì ở trong ta, và ta ở trong người.
56ผู้ที่กินเนื้อหนังของเราและดื่มเลือดของเราอยู่ในเรา และเราอยู่ในเขา
57Như Cha, là Đấng hằng sống, đã sai ta đến, và ta sống bởi Cha; cũng một thể ấy, người nào ăn ta, sẽ sống bởi ta vậy.
57พระบิดาผู้มีชีวิตส่งเรามา และเรามีชีวิตเพราะพระบิดาฉันใด ผู้ที่กินเราก็จะมีชีวิตเพราะเราฉันนั้น
58Đây là bánh từ trên trời xuống. Bánh đó chẳng phải như ma-na mà tổ phụ các ngươi đã ăn,... rồi cũng chết; kẻ nào ăn bánh nầy sẽ sống đời đời.
58นี่คือขนมปังที่ลงมาจากสวรรค์ ไม่เหมือนกับที่บรรพบุรุษของพวกคุณกินมานาแล้วตาย ผู้ที่กินขนมปังนี้จะมีชีวิตตลอดไป”
59Đức Chúa Jêsus phán những điều đó lúc dạy dỗ trong nhà hội tại thành Ca-bê-na-um.
59พระองค์กล่าวสิ่งเหล่านี้ขณะสอนอยู่ในธรรมศาลาที่คาเปอรนาอุม
60Có nhiều môn đồ nghe Ngài, thì nói rằng: Lời nầy thật khó; ai nghe được?
60เมื่อสาวกของพระองค์หลายคนได้ยิน จึงพูดว่า “คำพูดนี้ยากมาก ใครจะฟังได้?”
61Nhưng Đức Chúa Jêsus tự mình biết môn đồ lằm bằm về việc đó, bèn phán rằng: Điều đó xui các ngươi vấp phạm sao?
61แต่พระเยซูรู้อยู่ในใจว่าสาวกของพระองค์กำลังบ่นพึมพำเรื่องนี้ จึงกล่าวกับพวกเขาว่า “เรื่องนี้ทำให้พวกคุณสะดุดหรือ?
62Vậy, nếu các ngươi thấy Con người lên nơi Ngài vốn ở khi trước thì thể nào?
62แล้วถ้าพวกคุณเห็นบุตรมนุษย์ขึ้นไปยังที่ซึ่งพระองค์เคยอยู่ก่อนล่ะ?
63Aáy là thần linh làm cho sống, xác thịt chẳng ích chi. Những lời ta phán cùng các ngươi đều là thần linh và sự sống.
63วิญญาณเป็นผู้ให้ชีวิต เนื้อหนังไม่มีประโยชน์อะไร ถ้อยคำที่เราพูดกับพวกคุณเป็นวิญญาณและเป็นชีวิต
64Song trong vòng các ngươi có kẻ không tin. Vì Đức Chúa Jêsus biết từ ban đầu, ai là kẻ không tin, ai là kẻ sẽ phản Ngài.
64แต่ในพวกคุณมีบางคนที่ไม่เชื่อ” เพราะพระเยซูรู้ตั้งแต่แรกว่าใครบ้างไม่เชื่อ และใครจะทรยศพระองค์
65Ngài lại phán rằng: Chính vì cớ đó, mà ta đã nói cùng các ngươi rằng nếu Cha chẳng ban cho, thì chẳng ai tới cùng ta được.
65พระองค์กล่าวว่า “เพราะเหตุนี้ เราจึงบอกพวกคุณว่า ไม่มีใครมาหาเราได้ เว้นแต่พระบิดาจะประทานให้เขามา”
66Từ lúc ấy, có nhiều môn đồ Ngài trở lui, không đi với Ngài nữa.
66ตั้งแต่นั้น สาวกของพระองค์หลายคนก็ถอยกลับ และไม่ติดตามพระองค์อีก
67Đức Chúa Jêsus phán cùng mười hai sứ đồ rằng: Còn các ngươi, cũng muốn lui chăng?
67พระเยซูจึงถามสาวกสิบสองคนว่า “พวกคุณก็ไม่อยากจากไปด้วยใช่ไหม?”
68Si-môn Phi-e-rơ thưa rằng: Lạy Chúa, chúng tôi đi theo ai? Chúa có những lời của sự sống đời đời;
68ซีโมนเปโตรตอบพระองค์ว่า “องค์พระผู้เป็นเจ้า พวกเราจะไปหาใคร? พระองค์มีถ้อยคำแห่งชีวิตนิรันดร์
69chúng tôi đã tin, và nhận biết rằng Chúa là Đấng thánh của Đức Chúa Trời.
69พวกเราเชื่อและรู้แล้วว่า พระองค์คือพระคริสต์ พระบุตรของพระเจ้าผู้มีชีวิตอยู่”
70Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta há chẳng đã chọn các ngươi là mười hai sứ đồ sao? Mà một người trong các ngươi là quỉ!
70พระเยซูตอบพวกเขาว่า “เราไม่ได้เลือกพวกคุณทั้งสิบสองคนหรือ? แต่คนหนึ่งในพวกคุณเป็นมาร”
71Vả, Ngài nói về Giu-đa con Si-môn ỗch-ca-ri-ốt; vì chính hắn là một trong mười hai sứ đồ, sau sẽ phản Ngài.
71พระองค์หมายถึงยูดาสบุตรของซีโมนอิสคาริโอท เพราะเขาคือคนที่จะทรยศพระองค์ ทั้งที่เป็นหนึ่งในสาวกสิบสองคน
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.