Giê 9
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Kulish and Puluj Bible (1905)
1Oâi! ước gì đầu tôi là suối nước, mắt tôi là nguồn lụy! hầu cho tôi vì những kẻ bị giết của con gái dân ta mà khóc suốt ngày đêm.
1О, хто дав би в голову мою воду, а очам моїм джерело сльоз! Я плакав би день і ніч над занапащаннєм дочки народу мого.
2Oâi! ước gì tôi có một cái quán khách bộ hành trong đồng vắng! để tôi được bỏ dân ta mà đi xa khỏi họ; vì họ thảy điều là kẻ tà dâm, ấy là một bọn quỉ trá.
2Ой коли б же менї дано в пустинї притулок подорожних! я покинув би людей моїх та й пійшов од них: всї бо вони перелюбники, купа зрадників.
3Chúng nó giương lưỡi mình như cái cung, đặng phát lời dối trá ra. Chúng nó ở trong xứ là mạnh lớn, mà chẳng làm sự chân thật; bởi chúng nó làm ác càng thêm ác, và chẳng nhìn biết ta, Đức Giê-hô-va phán vậy.
3Натягують язика свого, мов лука, на лож і потужнїють на землї кривдою; бо від одного ледарства переходять вони до другого, мене ж не знають, говорить Господь.
4Ai nấy phải giữ gìn về người lân cận mình, chớ tin cậy một người nào trong vòng anh em mình; vì mỗi người anh em sẽ lừa phỉnh anh em lắm, mỗi người lân cận đều đi dạo nói xấu.
4Остерігайсь один одного, й не звіряйся брат братові; кожен бо брат заставляє підступи, кожен побратим обносить клеветами.
5Ai nấy gạt gẫm kẻ lân cận mình, chẳng nói sự chân thật. Chúng nó luyện tập lưỡi mình mà nói dối, chăm chỉ làm điều ác.
5Один обманює другого, правди не говорять; зʼучили язики свої говорити неправду, лукавлять аж до утоми.
6Đức Giê-hô-va phán: Ngươi ăn ở giữa sự dối trá; ấy cũng vì cớ sự dối trá mà chúng nó chẳng khứng nhìn biết ta.
6Ти живеш серед підступу; через підступ не хочуть вони й мене знати, говорить Господь.
7Vậy nên Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Nầy, ta sẽ làm cho tan chảy và thử chúng nó; vì nếu chẳng vậy thì xử với con gái dân ta thể nào?
7Тим то й говорить Господь Саваот: Ось, я розплавлю і навідаю їх; що ж бо менї чинити з такою дочкою народу мого?
8Lưỡi chúng nó là tên độc, hay buông lời dối trá. Ngoài miệng thì chúc bình an cho kẻ lân cận mình, mà trong lòng thì gài bẫy.
8Язик їх — смертоносна стріла: говорять підступно; устами своїми говорять до свого ближнього прихильно, а в серцї свойму заставляють сїти.
9Đức Giê-hô-va phán: Ta há chẳng thăm phạt chúng nó về mọi điều ấy sao? Thần ta há chẳng trả thù một nước dường ấy sao?
9Як же б я та не скарав їх за таке? — говорить Господь, як не має помститись душа моя на такому народові, як сей?
10Ta sẽ khóc lóc thở than về các núi, sẽ xướng bài ca sầu não về nội cỏ nơi đồng vắng, vì thảy đều bị đốt cháy, đến nỗi chẳng còn ai đi qua đó nữa. Tại đó chẳng còn nghe tiếng bầy súc vật, chim trời và loài thú đều trốn đi cả rồi.
10Задля гір здійму плач і риданнє, над луговими пасовищами заголошу, бо їх випалять, так що не буде нїкому ходу через них, і нечути буде череднього рику; і птаство піднебесне й зьвірі — все розсїється, повтїкає.
11Ta sẽ khiến Giê-ru-sa-lem thành đống đổ nát, nơi ở của chó rừng; sẽ làm cho các thành của Giu-đa ra hoang vu không người ở.
11І оберну Ерусалим в купу каміння, в пробуток шакалїв, а Юдині міста пообертаю в пустки безлюдні.
12Ai là người khôn ngoan đặng hiểu những sự nầy? và miệng Đức Giê-hô-va nói cùng ai, để người báo tin? vì làm sao xứ nầy bị diệt bị cháy như đồng vắng, đến nỗi không ai qua lại?
12Хто такий мудрий, щоб се зрозумів, і хто, чуючи се з уст Господнїх, зʼясував би, через що погибла країна й випалена, як пустиня, так що через неї нема нїкому ходу?
13Đức Giê-hô-va đáp rằng: Aáy là vì chúng nó bỏ luật pháp ta mà ta đã đặt cho; không vâng tiếng ta, và không bước theo.
13Господь же говорить так: За те, що вони покинули закон мій, який я дав їм, і не слухали голосу мого та й не ходили по йому;
14Nhưng chúng nó bước theo sự cứng cỏi của lòng mình, theo các thần Ba-anh mà tổ phụ mình đã dạy.
14А ходили за упрямим серцем своїм та слїдом за Баалом, як їх отцї їх навчили.
15Vậy nên, Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Nầy, ta sẽ cho dân nầy ăn ngải cứu, và cho uống mật đắng.
15Тим же то так говорить Господь Саваот, Бог Ізраїля: Нагодую люд сей полином і напою водою з жовчю;
16Ta sẽ làm cho chúng nó tan lạc trong các dân tộc mà chúng nó và tổ phụ mình chưa từng biết; ta sẽ sai gươm đuổi theo, cho đến chừng nào đã diệt chúng nó.
16І порозсїваю між народами, що їх нї вони, нї їх отцї не знали, і пошлю слїдом за ними меча, аж їх повигублюю.
17Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Hãy lo gọi những đàn bà hay khóc mướn, cho chúng nó đến; hãy gọi những người đàn bà rất khéo, cho chúng nó đến.
17Так говорить Господь сил небесних: Розважте се, та покличте голосїльниць, нехай прийдуть, і пошлїте за тямущими в сьому дїлї, нехай прийдуть.
18Chúng nó hãy vội vàng vì chúng ta mà than khóc, cho mắt chúng ta rơi lụy, mí mắt chúng ta tràn nước ra!
18Нехай хутко прийдуть і заголосять по нас, щоб і наші очі слїзьми виливались і наші війки взялись водою.
19Vả, có tiếng phàn nàn nghe từ Si-ôn, rằng: Chúng ta bị hủy phá dường nào! Chúng ta bị xấu hổ lắm, vì chúng ta bỏ đất; vì họ đã phá đổ chỗ ở chúng ta!
19Бо голосний плач знявся од Сиону: Ой як же нас ограблено, як тяжко соромом окрито! мусимо покинути нашу землю, повалено бо домівки наші!
20Hỡi các đàn bà, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va, tai các ngươi hãy nghe lời miệng Ngài phán! Hãy dạy cho các con gái các ngươi bài ca vãn; mỗi người hãy dạy cho kẻ lân cận mình khóc than!
20Ой чувайте ж, молодицї, слово Господнє, і нехай вважає ухо ваше на слово з уст його; і навчайте ваших дочок плакати, і одна другу — в пісьнях нарікати!
21Vì sự chết đã lên vào cửa sổ chúng ta, đã sấn vào trong cung chúng ta, giết con cái tại ngoài đường, và kẻ trai trẻ giữa chợ.
21Бо смерть добувається у наші вікна, вломлюється в палати наші, щоб губити з серед улиць дїток, молодиків із майданів ваших.
22Ngươi hãy bảo rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Thây người ta sẽ ngã xuống như phân đổ đồng ruộng, và như nắm lúa đổ ra sau lưng con gặt; chẳng ai sẽ lượm chúng nó lại!
22Скажи: так говорить Господь: поляжуть люде трупом, наче гній на полі, мов ті снопи позад женця, та й нїкому буде їх збірати.
23Đức Giê-hô-va phán như vầy: Người khôn chớ khoe sự khôn mình; người mạnh chớ khoe sự mạnh mình; người giàu chớ khoe sự giàu mình.
23Так говорить Господь: Нехай не хвалиться мудрий мудростю своєю й потужний потугою своєю, нехай не хвалиться багатий багацтвом своїм.
24Nhưng kẻ nào khoe, hãy khoe về trí khôn mình biết ta là Đức Giê-hô-va, là Đấng làm ra sự thương xót, chánh trực, và công bình trên đất; vì ta ưa thích những sự ấy, Đức Giê-hô-va phán vậy.
24Нї, хто хвалиться, нехай же ж хвалиться тим, що він розуміє і знає мене, знає, що я — Господь, котрий творю милость і суд і справедливість на землї, бо се до вподоби менї, говорить Господь.
25Đức Giê-hô-va phán: Nầy, ngày đến, bấy giờ ta sẽ phạt mọi kẻ chịu cắt bì mà lòng chưa cắt bì:
25От, надходять днї, говорить Господь, що навідаюсь до всїх обрізаних і необрізаних:
26tức là Ê-díp-tô, Giu-đa, Ê-đôm, con cháu Am-môn, Mô-áp, và hết thảy những dân cạo tóc màng tang và ở nơi đồng vắng. Vì mọi dân tộc đều không cắt bì, còn cả nhà Y-sơ-ra-ên chẳng cắt bì trong lòng.
26До Египту й Юдеї, Едома, Аммонїїв і Моаба; до всїх, що стрижуть кругом волоссє, і що живуть у пустинї; всї бо ті народи необрізані, а ввесь дом Ізраїля — з необрізаним серцем.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.