Giê
Chapter 8
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Kulish and Puluj B…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Kulish and Puluj Bible (1905)
1Đức Giê-hô-va phán: Trong thời đó, người ta sẽ bới xương của các vua Giu-đa, xương của các quan trưởng, xương của các thầy tế lễ, xương của các tiên tri, và xương của các dân cư Giê-ru-sa-lem ra khỏi mồ mả.
1Тими часами, говорить Господь, повикидають із гробів кістяки царів Юдиних і кістяки князїв їх, кистяки сьвященників і кістяки пророків і кістяки осадників Ерусалимських.
2Người ta sẽ phơi những xương ấy ra dưới mặt trời, mặt trăng, và cơ binh trên trời, tức là những vật mà họ đã yêu mến, hầu việc, bước theo, tìm cầu, và thờ lạy. Những xương ấy sẽ chẳng được thâu lại, chẳng được chôn lại; sẽ như phân trên mặt đất.
2І порозкидають їх перед сонцем і перед місяцем і перед усїм військом піднебесним, що вони за живота свого їх любили й їм служили й за ними ходили, їх шукали й перед ними припадали. Не збірати муть їх, анї ховати; вони будуть гноіщем на полі.
3Mọi kẻ sót của họ hàng gian ác ấy còn lại trong mọi nơi ta đã đuổi chúng nó đến, chúng nó sẽ cầu chết hơn là sống, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
3Тодї волїти ме смерть нїж життє ввесь останок того ледачого кодла по всїх місцях, куди я їх повикидаю, говорить Господь Саваот.
4Vậy ngươi khá bảo chúng nó rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Người ta vấp ngã, há chẳng đứng dậy sao? Kẻ nào trở đi, há chẳng trở về sao?
4І скажи їм іще: Так говорить Господь: Хиба ж, як хто впаде, та й не встає, або як хто зібється з дороги, та й не вертається?
5Vậy thì làm sao mà dân sự Giê-ru-sa-lem nầy cứ mài miệt trong sự bội nghịch đời đời? Chúng nó khăng khăng giữ điều gian trá, chẳng chịu trở lại.
5Чого ж сей люд, Ерусалим, зостається упрямо в одступі? вони цупко держаться заблуду свого й не хочуть вернутись?
6Ta đã lắng tai và nghe: chúng nó chẳng nói ngay thẳng, chẳng có ai ăn năn điều ác của mình, mà rằng: Ta đã làm gì? Thảy đều dong ruổi như ngựa xông vào trận.
6Я ж пильно прислухався: не говорять вони правду, нїхто не кається в свойму ледарстві, щоб казати: „Що се я вкоів?‟ Усї звертають на свою путь, мов той кінь, що чвалить у бій.
7Chim hạc giữa khoảng không tự biết các mùa nhất định cho nó; chim cu, chim yến, chim nhạn, giữ kỳ dời chỗ ở. Nhưng dân ta chẳng biết luật pháp của Đức Giê-hô-va!
7І бусько під небом знає час перелету свого; й горлиця й ластівка й журавель пильнують часу, коли їм вертатись, люде ж мої не знають про Господень роспорядок.
8Sao các ngươi nói được rằng: Chúng ta là khôn sáng, có luật pháp Đức Giê-hô-va ở với chúng ta? Nhưng, nầy, ngọn bút giả dối của bọn thông giáo đã làm cho luật pháp ấy ra sự nói dối!
8Як се ви говорите: Мудрі ми люде, та й закон Господень у нас? Нї, бо перо книжникове перекручує його в лож.
9Những kẻ khôn sáng bị xấu hổ, sợ hãi, và bị bắt. Chúng nó đã bỏ lời của Đức Giê-hô-va; thì sự khôn ngoan nó là thể nào?
9Осоромились мудрі книжники, стуманїли й заплутались; вони відкинули слово Господнє; в чому ж мудрість їх?
10Vậy nên, ta sẽ ban vợ chúng nó cho kẻ khác, ruộng chúng nó cho chủ mới; vì từ kẻ rất nhỏ cho đến người rất lớn, ai nấy đều tham lam; từ tiên tri cho đến thầy tế lễ, ai nấy đều làm sự gian dối.
10За се пооддаю жен їх другим, та й поля їх иншим господарям, бо всї вони, від малого до великого, дбають тілько про наживу; пророки вкупі з сьвященниками — всї жиють у неправдї.
11Chúng nó rịt vết thương cho con gái dân ta cách sơ sài, nói rằng: Bình an, bình an! mà không bình an chi hết.
11І гоять рани в людей моїх легкодушно, приговорюючи: „Спасеннє, мир!‟ А мира нема.
12Chúng nó làm ra sự gớm ghiếc, há lấy làm xấu hổ ư? đã chẳng xấu hổ chút nào, lại cũng không thẹn đỏ mặt. Vậy nên chúng nó sẽ ngã với những người vấp ngã. Đến ngày thăm phạt, chúng nó sẽ bị lật đổ, Đức Giê-hô-va phán vậy.
12Хиба вони соромляться, витворяючи гидоти? Нї, вони нї трохи не стидаються й не червонїють. За те попадають вони між тими, що поляжуть; як надійде час їх карання, поваляться, говорить Господь.
13Đức Giê-hô-va phán: Thật, ta sẽ diệt hết chúng nó. Chẳng còn trái nho trên cây nho; chẳng còn trái vả trên cây vả; lá sẽ khô rụng; những điều ta đã ban cho, sẽ bị cất lấy!
13До щаду спустошу їх, говорить Господь, не зостанеться нї однієї грони на виноградинї, анї смоківки на смоківницї, ба й листє опаде, і що дав я їм, відойде від них.
14Sao chúng ta cứ ngồi yên? Hãy nhóm lại và vào các thành bền vững, và nín lặng tại đó! Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta đã khiến chúng ta nín lặng, Ngài cho chúng ta uống mật đắng, vì chúng ta đã phạm tội nghịch cùng Đức Giê-hô-va.
14Чого ще седимо? Скуплюймось докупи та йдїмо в утверджені міста, — там і погинемо; бо Господь, Бог наш, судив нам згинути, й дає нам пити воду з жовчею, за те що согрішали проти Господа.
15Chúng ta trông sự bình an, nhưng chẳng có sự tốt gì đến; trông kỳ chữa lành, mà sự sợ hãi đây nầy!
15Дожидаємо ратунку, а нема нїчого доброго, — одужання, а перед очима погибель.
16Về phía thành Đan, nghe tiếng thét của ngựa nó; nghe tiếng ngựa chiến nó hí lên, khắp đất đều run rẩy; vì chúng nó đã đến; nuốt đất và mọi vật trong nó, nuốt thành và dân cư nó.
16Від Дану чути вже хропіт коней його, тремтить уся земля від голосного ржання жеребцїв його; й прийдуть і зожруть землю й усе, що на їй, місто з осадниками його.
17Nầy, ta sẽ sai rắn, bọ cạp đến giữa các ngươi, chẳng ai ếm chú được nó; chúng nó sẽ cắn các ngươi, Đức Giê-hô-va phán vậy.
17Ось бо, пошлю на вас гадюк та василиски, що проти них нема замовляння, і будуть кусати вас, говорить Господь.
18Ước gì tôi được yên ủi, khỏi sự lo buồn! Lòng tôi mỏi mệt trong tôi!
18Ой коли ж повеселїйшаю в печалї моїй! серце моє млїє в менї.
19Nầy, có tiếng kêu la của con gái dân ta, kêu từ đất xa lắm, rằng: Đức Giê-hô-va không còn ở trong Si-ôn sao? Vua của thành ấy không còn ở giữa thành sao? Sao chúng nó dùng tượng chạm của mình và vật hư không của dân ngoại mà chọc giận ta vậy?
19Ось, я чую, як голосять люде мої з далекої сторони: Чи вже ж бо нема Господа на Сионї? Чи вже ж нема на йому царя його? — А чому ж вони довели мене до гнїву своїми ідолами, чужоземніми, марними?
20Mùa gặt đã qua, mùa hạ đã hết, mà chúng ta chưa được cứu rỗi!
20Минуло жниво, скінчилось лїто, нам же пільги нема!
21Con gái dân ta bị thương, ta vì đó bị thương; ta đang sầu thảm; bị sự kinh hãi bắt lấy.
21Притиснена дочка народу мого, — стискається і моє серце; ходжу, сумуючи, страх обняв мене.
22Trong Ga-la-át há chẳng có nhũ hương sao? há chẳng có thầy thuốc ở đó sao? Vậy thì làm sao mà bịnh con gái dân ta chẳng chữa lành?
22Чи то ж нема балзаму в Галаадї? чи то ж нема там лїкаря? Чом нема вилїчення дочцї народу мого?

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.