Giê
Chapter 9
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Oâi! ước gì đầu tôi là suối nước, mắt tôi là nguồn lụy! hầu cho tôi vì những kẻ bị giết của con gái dân ta mà khóc suốt ngày đêm.
1Aw kai kaminawk ih canu humhaih pongah, aqum athun ka qah, ka lu loe tui suih moe, ka mik loe tuibap ah oh boeh.
2Oâi! ước gì tôi có một cái quán khách bộ hành trong đồng vắng! để tôi được bỏ dân ta mà đi xa khỏi họ; vì họ thảy điều là kẻ tà dâm, ấy là một bọn quỉ trá.
2Aw nihcae loe zu sava nuiah zaehaih sah kami, oep kaom ai kami ah oh o pongah, kaimah ih kaminawk to ka caeh taak moe, praezaek ah ohhaih ahmuen pakrong han ka koeh boeh.
3Chúng nó giương lưỡi mình như cái cung, đặng phát lời dối trá ra. Chúng nó ở trong xứ là mạnh lớn, mà chẳng làm sự chân thật; bởi chúng nó làm ác càng thêm ác, và chẳng nhìn biết ta, Đức Giê-hô-va phán vậy.
3Nihcae loe amsawnlok thuih hanah palai to kalii baktiah anueng o coek boeh; toe nihcae loe long nuiah loktang lok hoi qoeng o ai; zaehaih maeto pacoeng maeto bangah caeh o moe, Kai hae panoek o ai, tiah Angraeng mah thuih.
4Ai nấy phải giữ gìn về người lân cận mình, chớ tin cậy một người nào trong vòng anh em mình; vì mỗi người anh em sẽ lừa phỉnh anh em lắm, mỗi người lân cận đều đi dạo nói xấu.
4Nam puinawk nuiah acoe oh; nam nawkamyanawk to oep o hmah; nawkamyanawk loe aling thaih kami ah oh o boih, ampuinawk doeh kasae thui thaih kami ah ni oh o.
5Ai nấy gạt gẫm kẻ lân cận mình, chẳng nói sự chân thật. Chúng nó luyện tập lưỡi mình mà nói dối, chăm chỉ làm điều ác.
5Nihcae loe angmacae ampui to aling o, loktang to thui o ai; amsawnlok thuih hanah palai to patuk o; zaehaih sak o loiah angpho o boeh.
6Đức Giê-hô-va phán: Ngươi ăn ở giữa sự dối trá; ấy cũng vì cớ sự dối trá mà chúng nó chẳng khứng nhìn biết ta.
6Nang loe alinghaih um ah na oh, alinghaih pongah kai panoek han koeh o ai, tiah Angraeng mah thuih.
7Vậy nên Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Nầy, ta sẽ làm cho tan chảy và thử chúng nó; vì nếu chẳng vậy thì xử với con gái dân ta thể nào?
7To pongah misatuh Angraeng mah hae tiah thuih; Khenah, nihcae to atui ah kam kawsak moe, Ka tanoek han; Kai kaminawk canu hanah kawbangmaw Ka sak pae han?
8Lưỡi chúng nó là tên độc, hay buông lời dối trá. Ngoài miệng thì chúc bình an cho kẻ lân cận mình, mà trong lòng thì gài bẫy.
8Nihcae ih palai loe duekhaih palaa ah oh moe, alinghaih hoiah lok a thuih o; a imtaeng kami khaeah pakha hoiah angdaehhaih lok to thuih o, toe palung thung hoiah loe Anih han dongh patung pae o.
9Đức Giê-hô-va phán: Ta há chẳng thăm phạt chúng nó về mọi điều ấy sao? Thần ta há chẳng trả thù một nước dường ấy sao?
9Hae hmuennawk pongah thuitaek ai ah ka oh han maw? tiah Angraeng mah thuih; to baktih acaeng nuiah danpaek ai ah poek angphohaih hoiah maw Ka oh han?
10Ta sẽ khóc lóc thở than về các núi, sẽ xướng bài ca sầu não về nội cỏ nơi đồng vắng, vì thảy đều bị đốt cháy, đến nỗi chẳng còn ai đi qua đó nữa. Tại đó chẳng còn nghe tiếng bầy súc vật, chim trời và loài thú đều trốn đi cả rồi.
10Maenawk to ka qah haih moe, praezaek ih ohhaih ahmuennawk hanah doeh ka oi haih han; mi mah doeh caeh thaih han ai ah, hmai mah kangh boih boeh; kaminawk mah im ah pacah ih moi lok doeh thaih o ai boeh; van ih tavaanawk doeh angpoeng o boih boeh, moi kasannawk doeh cawnh o boih boeh moe, om o ai boeh.
11Ta sẽ khiến Giê-ru-sa-lem thành đống đổ nát, nơi ở của chó rừng; sẽ làm cho các thành của Giu-đa ra hoang vu không người ở.
11Jerusalem loe anghnoeng tapophaih ahmuen, tasuinawk ohhaih ahmuen ah ka sak han; Judah vangpuinawk doeh, kami om ai ahmuen ah ka ohsak han.
12Ai là người khôn ngoan đặng hiểu những sự nầy? và miệng Đức Giê-hô-va nói cùng ai, để người báo tin? vì làm sao xứ nầy bị diệt bị cháy như đồng vắng, đến nỗi không ai qua lại?
12Hae hmuen panoek thaih, palungha kami loe mi aa? Hae hmuen thuih thai hanah Angraeng mah lokthuih pae ih kami loe mi aa? Mi doeh caeh thaih han ai ah, prae loe amro boeh moe, praezaek baktiah hmai mah kang boih boeh.
13Đức Giê-hô-va đáp rằng: Aáy là vì chúng nó bỏ luật pháp ta mà ta đã đặt cho; không vâng tiếng ta, và không bước theo.
13Angraeng mah hae tiah thuih; Nihcae loe angmacae hmaa ah ka suek pae ih, ka patukhaih lok to pahnawt o, ka lok tahngai o ai moe, pazui doeh pazui o ai;
14Nhưng chúng nó bước theo sự cứng cỏi của lòng mình, theo các thần Ba-anh mà tổ phụ mình đã dạy.
14angmacae poekhaih loklam to pazui o moe, ampanawk mah patuk ih, Baalnawk hnukah bang o lat.
15Vậy nên, Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Nầy, ta sẽ cho dân nầy ăn ngải cứu, và cho uống mật đắng.
15To pongah misatuh Angraeng, Israel Sithaw mah hae tiah thuih; Khenah, hae kaminawk, nihcae loe kakhaa buh to ka pacah moe, kasoetui to ka naeksak han.
16Ta sẽ làm cho chúng nó tan lạc trong các dân tộc mà chúng nó và tổ phụ mình chưa từng biết; ta sẽ sai gươm đuổi theo, cho đến chừng nào đã diệt chúng nó.
16Angmacae hoi ampanawk mah panoek o vai ai ih, Sithaw panoek ai kaminawk salakah kam hetsak han; nihcae ka hum boih ai karoek to, sumsen ka patoeh han.
17Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Hãy lo gọi những đàn bà hay khóc mướn, cho chúng nó đến; hãy gọi những người đàn bà rất khéo, cho chúng nó đến.
17Misatuh Angraeng mah hae tiah thuih; Kho poek oh, qah thaih nongpatanawk angzoh hanah kawk oh; oi thaih nongpatanawk angzoh thai hanah patoeh oh.
18Chúng nó hãy vội vàng vì chúng ta mà than khóc, cho mắt chúng ta rơi lụy, mí mắt chúng ta tràn nước ra!
18Kaminawk mah, aicae mikkhraetui long moe, mikkhraetui hoi mik koi ai karoek to ang qah o haih hanah, nihcae to karangah angzo o sak ah.
19Vả, có tiếng phàn nàn nghe từ Si-ôn, rằng: Chúng ta bị hủy phá dường nào! Chúng ta bị xấu hổ lắm, vì chúng ta bỏ đất; vì họ đã phá đổ chỗ ở chúng ta!
19Qahhaih lok loe Zion hoiah angthaih; aicae loe amro o tangtang boeh! Azathaih a tongh o boeh, minawk mah aicae ohhaih ahmuennawk to phraek boih boeh pongah, prae loe pahnawt sut han oh boeh.
20Hỡi các đàn bà, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va, tai các ngươi hãy nghe lời miệng Ngài phán! Hãy dạy cho các con gái các ngươi bài ca vãn; mỗi người hãy dạy cho kẻ lân cận mình khóc than!
20Aw nongpatanawk, Angraeng ih lok to tahngai oh; anih pakha hoi tacawt lok pongah naa to patueng oh; na canunawk hanah qahhaih lok, a imtaeng kaminawk boih hanah oihaih lok to patuk oh.
21Vì sự chết đã lên vào cửa sổ chúng ta, đã sấn vào trong cung chúng ta, giết con cái tại ngoài đường, và kẻ trai trẻ giữa chợ.
21Duekhaih loe aicae ih thokbuem ah dawh tahang moe, tasa bang ih nawktanawk to hum moe, longhma ih thendoengnawk to hum hanah, aicae ohhaih ahmuen thungah akunh.
22Ngươi hãy bảo rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Thây người ta sẽ ngã xuống như phân đổ đồng ruộng, và như nắm lúa đổ ra sau lưng con gặt; chẳng ai sẽ lượm chúng nó lại!
22Angraeng mah hae tiah thuih, tiah thui paeh; Kadueh qoknawk loe aek batiah azawn ah angsong o tih, cang aat kami mah tahmaih ih cangqui baktiah, mi mah doeh nihcae ih qok to pakuem mak ai.
23Đức Giê-hô-va phán như vầy: Người khôn chớ khoe sự khôn mình; người mạnh chớ khoe sự mạnh mình; người giàu chớ khoe sự giàu mình.
23Angraeng mah hae tiah thuih; Palungha kami loe palunghahaih pongah amoek o hmah nasoe, thacak kami doeh a thacakhaih pongah amoek hmah nasoe loe, angraeng kami doeh angraenghaih pongah amoek hmah nasoe:
24Nhưng kẻ nào khoe, hãy khoe về trí khôn mình biết ta là Đức Giê-hô-va, là Đấng làm ra sự thương xót, chánh trực, và công bình trên đất; vì ta ưa thích những sự ấy, Đức Giê-hô-va phán vậy.
24amoek kami mah, Kai loe long nuiah tahmenhaih hoi amlunghaih, katoengah lokcaekhaih, toenghaih sahkung Angraeng ah oh, tiah kai panoekhaih bangah amoek o haih nasoe, tiah Angraeng mah thuih.
25Đức Giê-hô-va phán: Nầy, ngày đến, bấy giờ ta sẽ phạt mọi kẻ chịu cắt bì mà lòng chưa cắt bì:
25Khenah, takpum ah khue tangyat hin aat kaminawk thuitaekhaih aninawk to angzoh li boeh;
26tức là Ê-díp-tô, Giu-đa, Ê-đôm, con cháu Am-môn, Mô-áp, và hết thảy những dân cạo tóc màng tang và ở nơi đồng vắng. Vì mọi dân tộc đều không cắt bì, còn cả nhà Y-sơ-ra-ên chẳng cắt bì trong lòng.
26Izip, Judah, Edom, Ammon, Moab hoi praezaek hoi angthla parai ahmuen ah kaom kaminawk boih loe tangyat hin aat o ai, Israel imthung takoh boih doeh palungthin tangyat hin aat o ai, tiah Angraeng mah thuih.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.