Giê
Chapter 31
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Đức Giê-hô-va phán: Trong lúc đó, ta sẽ làm Đức Chúa Trời của hết thảy họ hàng Y-sơ-ra-ên; chúng nó sẽ làm dân ta.
1To naah loe Israel imthung takoh boih ih Sithaw ah ka oh han, nihcae loe kai ih kami ah om o tih, tiah Angraeng mah thuih.
2Đức Giê-hô-va phán như vầy: Dân sót lại thoát khỏi gươm dao, tức là Y-sơ-ra-ên, đã được ơn trong đồng vắng, khi ta đi khiến chúng nó được yên nghỉ.
2Angraeng mah, sumsen hoi loih anghmat kaminawk loe praezaek ah tahmenhaih hnu o ueloe, Israel doeh anghakhaih ka paek han boeh, tiah thuih.
3Đức Giê-hô-va từ thuở xưa hiện ra cùng tôi và phán rằng: Phải, ta đã lấy sự yêu thương đời đời mà yêu ngươi; nên đã lấy sự nhân từ mà kéo ngươi đến.
3Canghnii ah aicae khae amtueng Sithaw mah, Ue, nang loe dungzan amlunghaih hoiah kang palung; to pongah tahmenhaih hoiah kang khetzawn.
4Ta sẽ dựng lại ngươi, thì ngươi sẽ được dựng, hỡi gái đồng trinh Y-sơ-ra-ên! Ngươi sẽ lại cầm trống cơm làm trang sức, đi làm một với những người nhảy múa vui vẻ.
4Aw tangla cuem, Israel, nang hae kang sak let han, nang loe sak let ah om tih; satuem to na la ueloe, anghoe kaminawk hoi hnawh hanah na caeh tih.
5Ngươi sẽ lại trồng vườn nho trên núi Sa-ma-ri, những kẻ trồng sẽ trồng và sẽ được hái trái.
5Samaria maenawk nuiah misurkung to na thling tih; takha sah kaminawk mah thling o ueloe, athainawk to caa o tih.
6Sẽ có ngày, những kẻ canh trên các núi Eùp-ra-im kêu rằng: Hãy chổi dậy, chúng ta hãy lên núi Si-ôn, đến cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta!
6Ephraim mae nuiah misatoep kaminawk mah, Angthawk oh, Zion ah, aicae Angraeng Sithaw khaeah caeh o tahang si, tiah hanghaih ni to om tih.
7Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy trổi tiếng reo vui vì Gia-cốp; hãy hò hét lên vì dân làm đầu các nước. Khá rao truyền ngợi khen mà rằng: Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy cứu dân Ngài, là dân còn sót của Y-sơ-ra-ên.
7Angraeng mah hae tiah thuih; Jakob hanah anghoehaih laa to sah oh, kalen koek acaengnawk salakah hang oh; Aw Angraeng, nangmah ih kami, kanghmat Israel caanawk loe pahlong boeh, tiah saphaw oh loe, tamthang to thui oh.
8Nầy, ta sẽ đem chúng nó về từ xứ phương bắc, nhóm lại từ các đầu cùng đất. Trong vòng chúng nó sẽ có kẻ đui, kẻ què, đàn bà có nghén, đàn bà đẻ, hiệp nên một hội lớn mà trở về đây.
8Khenah, nihcae to aluek bang prae hoiah kang hoih moe, long boenghaih hoiah kang pakhueng han; nihcae hoi nawnto pop parai kaminawk, mikmaeng, khokkhaem, zokpom nongpata hoi nawkta tapen tom nongpatanawk to amlaem o let tih.
9Chúng nó khóc lóc mà đến, và ta sẽ dắt dẫn trong khi chúng nó nài xin ta; ta sẽ đưa chúng nó đi dọc bờ các sông, theo đường bằng thẳng, chẳng bị vấp ngã. Vì ta làm cha cho Y-sơ-ra-ên, còn Eùp-ra-im là con đầu lòng ta.
9Nihcae loe qahhaih, lawkthuihaih hoiah angzo o tih; nihcae amthaek han ai ah, vapui taeng ih katoeng loklam ah ka hoih han; kai loe Israel ih ampa ah ka oh, Ephraim loe ka calu ah oh.
10Hỡi các nước, hãy nghe lời Đức Giê-hô-va; hãy reo lời ấy ra trong các cù lao xa! Khá nói rằng: Đấng đã làm tan lạc Y-sơ-ra-ên sẽ thâu nhóm nó lại, sẽ giữ như kẻ chăn giữ bầy chiên mình.
10Aw prae kaminawk boih, Angraeng ih lok hae tahngai oh, Israel haekkung mah anih to pakhueng let tih, tuutoep kami mah a tuunawk to toep baktih toengah, anih to toep tih, tiah tuipui thungah kaom praenawk khae khoek to thui oh.
11Vì Đức Giê-hô-va đã chuộc Gia-cốp, cứu khỏi tay kẻ mạnh hơn.
11Angraeng mah Jakob to pahlong moe, nihcae pongah thacak kue kami ih ban thung hoiah nihcae to akrang let.
12Họ sẽ đến và hát trên nơi cao của Si-ôn; sẽ trôi chảy đến ơn phước của Đức Giê-hô-va, đến lúa mì, rượu mới, dầu, và con nhỏ của chiên và bò; lòng họ sẽ như vườn đượm nhuần, chẳng buồn rầu chi nữa hết.
12To pongah nihcae angzo o ueloe, Zion maesang ah laa to sah o tih; Angraeng hoihaih rang hoiah cang, misurthaih, situi, tuucaanawk hoi maitaw caanawk to hnu o tih; nihcae hinghaih loe tui bawh ih takha baktiah om o ueloe, natuek naah doeh palungsae o let mak ai boeh.
13Bấy giờ gái đồng trinh sẽ vui mừng nhảy múa, các người trai trẻ và các ông già cũng sẽ vui chung; vì ta sẽ đổi sự sầu thảm chúng nó ra vui mừng, yên ủi chúng nó, khiến được hớn hở khỏi buồn rầu.
13To naah tangla cuem loe anghoe hoi hnawh ueloe, thendoengnawk hoi mitongnawk doeh nawnto hnawh o tih; nihcae qahhaih to anghoehaih ah ka paqoi pae han, nihcae to ka pathloep moe, palungsethaih to anghoehaih ah ka sak han.
14Ta sẽ làm cho lòng các thầy tế lễ chán chê vì đồ ăn béo; dân ta sẽ no nê về ơn phước của ta, Đức Giê-hô-va phán vậy.
14Qaimanawk to zok kam hahsak han; kaimah ih kaminawk doeh ka hoihhaih hoiah koi o tih boeh, tiah Angraeng mah thuih.
15Đức Giê-hô-va phán như vầy: Tại Ra-ma nghe có tiếng than thở, khóc lóc đắng cay. Ra-chên khóc con cái mình, mà không chịu yên ủi về con cái mình, vì chúng nó không còn nữa!
15Angraeng mah, qahhaih lok hoi oihaih lok loe Ramah hoiah angthaih; a caanawk om ai pongah, Rachel mah a caanawk to qah haih, pathloep thai ai boeh, tiah thuih.
16Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy nín tiếng ngươi, đừng than khóc, mắt ngươi đừng sa lụy, vì công việc của ngươi sẽ được thưởng; chúng nó sẽ trở về từ xứ kẻ thù, Đức Giê-hô-va phán vậy.
16Angraeng mah hae tiah thuih; Na qahhaih lok to angsum ah loe, na mikkhraetui to phuisak lai ah; na toksakhaih atho na hnu tih boeh hmang, tiah Angraeng mah thuih; nihcae loe misa ohhaih prae thung hoiah amlaem o let tih.
17Đức Giê-hô-va phán: Sẽ có sự trông mong cho kỳ sau rốt của ngươi; con cái ngươi sẽ trở về bờ cõi mình.
17To pongah boenghaih ah nang han oephaih oh, tiah Angraeng mah thuih; na caanawk loe angmacae prae ah amlaem o let tih.
18Ta nghe Eùp-ra-im vì mình than thở rằng: Ngài đã sửa phạt tôi, tôi bị sửa phạt như con bò tơ chưa quen ách. Xin Chúa cho tôi trở lại, thì tôi sẽ được trở lại; vì Chúa là Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi!
18Ephraim mah, kai hae nang thuitaek boeh, qui hoi pathlet thai ai ih maitaw kasan baktiah nang thuitaek boeh; na pathawk let ah, to tiah nahaeloe kam laem let han; nang loe ka Angraeng Sithaw ah na oh, tiah hang ih lok to ka thaih het boeh.
19Thật, sau khi tôi bị trở lại, tôi đã ăn năn; sau khi tôi được dạy dỗ, tôi đã vỗ đùi. Tôi nhuốc nhơ hổ thẹn, vì đã mang sự sỉ nhục của tuổi trẻ.
19Kam laem pacoengah ka dawnpakhuem boeh; ang thuitaek pacoengah, kaimah ih phaih to ka tumh; thendoeng ah ka oh nathuem ih ahmin sethaih to ka phawh pongah, azathaih hoiah ka oh, ue, anghmanghaih hoiah ka oh.
20Vậy thì Eùp-ra-im há là con rất thiết của ta, là con mà ta ưa thích sao? Mỗi khi ta nói nghịch cùng nó, ta còn nhớ đến nó lắm. Cho nên ta đã động lòng vì nó; phải, ta sẽ thương xót nó, Đức Giê-hô-va phán vậy.
20Ephraim loe ka palung ih ka capa na ai maw? Anih loe koeh koi kaom nawkta ah na ai maw oh? Anih misa haih lok to ka thuih, toe anih to vaihi khoek to ka pahnet ai vop; to pongah anih to ka poek khing, a nuiah tahmenhaih ka suek tangtang han, tiah Angraeng mah thuih.
21Hãy dựng nêu, đặt trụ chỉ lối; hãy để lòng về đường cái, nơi đường ngươi đã noi theo. Hỡi gái đồng trinh Y-sơ-ra-ên, hãy trở về các thành nầy thuộc về ngươi!
21Lam angmathaih to sah oh loe, loklam ah amtuenghaih to thling ah; na caehhaih loklam bangah palung to suem ah; Aw Israel, tangla cuem, amlaem let ah, nangmah ih vangpuinawk ah amlaem ah.
22Hỡi gái bội nghịch, ngươi sẽ đi dông dài cho đến chừng nào? Vì Đức Giê-hô-va đã dựng nên một sự mới trên đất: ấy là người nữ sẽ bao bọc người nam.
22Loklam amkhraeng canu, nasetto maw nam het khing han vop? Angraeng mah long nuiah hmuen kangtha to sak boeh, nongpata mah nongpa to takui tih.
23Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Khi ta đã đem những phu tù trở về, thì trong đất Giu-đa và các thành nó, người ta sẽ còn nói lời nầy: Hỡi chỗ ở của sự công bình, núi của sự thánh khiết kia, nguyền xin Đức Giê-hô-va ban phước cho ngươi!
23Misatuh kaminawk ih Angraeng, Israel Sithaw mah, misong ah ohhaih prae thung hoiah nihcae to kam laem haih let naah loe, Aw toenghaih kaom ahmuen, kaciim mae, Angraeng mah tahamhoihaih ang paek, tiah Judah prae hoi vangpuinawk thungah kaom kaminawk mah hae lok hae patoh o let tih boeh.
24Giu-đa cùng mọi thành nó, những người làm ruộng và những kẻ dẫn bầy sẽ ở chung tại đó.
24Judah prae ah kaom kaminawk hoi vangpui thungah kaom kaminawk loe to ahmuen ah laikok atok kaminawk, tuutoep kaminawk hoi nawnto om o tih.
25Vì ta đã làm cho lòng mệt mỏi được no nê, và mỗi lòng buồn rầu lại được đầy dẫy.
25Thazok kaminawk to ka pacah han; palungsae kaminawk palungsethaih to ka dipsak let han, tiah a thuih.
26Bấy giờ tôi thức dậy, thấy giấc ngủ tôi ngon lắm.
26Hae pongah kang lawt moe, ka khet naah, iih ka boep.
27Đức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ ta sẽ lấy giống người và giống thú vật mà gieo nơi nhà Y-sơ-ra-ên và nhà Giu-đa.
27Khenah, Israel hoi Judah imthung takoh ah kami atii hoi moi kasan ih atii ka haehhaih atue to pha tih, tiah Angraeng mah thuih.
28Như ta đã canh giữ chúng nó đặng nhổ, phá, đổ, diệt và làm khốn khổ thể nào, thì ta cũng sẽ canh giữ để dựng và trồng thể ấy, Đức Giê-hô-va phán vậy.
28Nihcae to aphong ving moe, phraek hanah, vah ving moe, paro hanah, ka khet baktih toengah, nihcae to ka bomh han, nihcae to ka patit moe, ka khetzawn han, tiah Angraeng mah thuih.
29Trong những ngày đó, người ta sẽ không còn nói: Oâng cha ăn trái nho chua mà con cháu phải ghê răng.
29To na niah loe kaminawk mah, Kam panawk mah misurtui kathaw to caak o pongah, a caanawk loe haa kin o, tiah thui o mak ai boeh.
30Nhưng mỗi người sẽ chết vì sự gian ác mình; hễ ai ăn trái nho chua, thì nấy phải ghê răng vậy.
30Toe kami boih angmah sakpazaehaih pongah ni dueh o tih; misurtui kathaw caa kami loe, angmah ih haa ni kin tih boeh.
31Đức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ ta sẽ lập một giao ước mới với nhà Y-sơ-ra-ên và với nhà Giu-đa.
31Khenah, Angraeng mah, Israel imthung takoh, Judah imthung takoh hoi ka sak ih kangtha lokmaihaih atue to pha tih;
32Giao ước nầy sẽ không theo giao ước mà ta đã kết với tổ phụ chúng nó trong ngày ta nắm tay dắt ra khỏi đất Ê-díp-tô, tức giao ước mà chúng nó đã phá đi, dầu rằng ta làm chồng chúng nó, Đức Giê-hô-va phán vậy.
32hae kaminawk ih ampanawk Izip prae thung hoiah ka zaeh naah, nihcae hoi ka sak ih lokmaihaih baktiah om mak ai; kai loe nihcae ih sava ah ka oh, toe nihcae loe ka lokmaihaih to phraek o, tiah Angraeng mah thuih;
33Đức Giê-hô-va phán: Nầy là giao ước mà ta sẽ lập với nhà Y-sơ-ra-ên sau những ngày đó. Ta sẽ đặt luật pháp ta trong bụng chúng nó và chép vào lòng. Ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó, chúng nó sẽ làm dân ta.
33to pacoengah Israel imthung takoh hoi ka sak han ih lokmaihaih loe hae tiah om tih, Kai ih kaalok to nihcae palung thungah ka suek moe, nihcae ih palung thungah ka tarik pae han; kai loe nihcae ih Sithaw ah ka oh han, nihcae doeh kai ih kami ah om o tih, tiah Angraeng mah thuih.
34Chúng nó ai nấy sẽ chẳng dạy kẻ lân cận mình hay là anh em mình, mà rằng: Hãy nhận biết Đức Giê-hô-va! vì chúng nó thảy đều sẽ biết ta, kẻ nhỏ cũng như kẻ lớn. Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ tha sự gian ác chúng nó, và chẳng nhớ tội chúng nó nữa.
34Nihcae mah, Angraeng to panoek o khae, tiah mi mah doeh a imtaeng kami hoi nawkamyanawk to patuk o mak ai boeh; kathoeng koek hoi kalen koek karoek to kami boih mah Kai to panoek o tih boeh; nihcae sakpazaehaih to ka pakuem mak ai, ka tahmen pae han boeh, tiah Angraeng mah thuih.
35Đức Giê-hô-va, là Đấng đã ban mặt trời làm sự sáng ban ngày, ban thứ tự mặt trăng và ngôi sao soi ban đêm, lật biển lên, đến nỗi sóng nó gầm thét, Đức Giê-hô-va vạn quân là danh của Ngài phán rằng:
35Misatuh kaminawk ih Angraeng, tiah ahmin kaom Angraeng mah, Khodai aangsak hanah ni, khoving aangsak hanah khrah hoi cakaehnawk, tuiphu angthawk hanah tuipui to ka paek, tiah thuih.
36Nếu lệ luật đó mất đi khỏi trước mặt ta, thì bấy giờ dòng giống Y-sơ-ra-ên cũng sẽ thôi không làm một nước trước mặt ta đời đời, Đức Giê-hô-va phán vậy.
36To hmuen sakhaih dan loe natuek naah doeh ka hmaa hoi anghma ving mak ai, Israel caanawk loe ka hmaa hoi dungzan ah anghmaa zuep acaeng ah om o mak ai, tiah Angraeng mah thuih.
37Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nếu trên có thể đo được trời, dưới có thể dò được nền đất; thì cũng vậy, ta sẽ bỏ trọn cả dòng giống Y-sơ-ra-ên vì cớ mọi đều chúng nó đã làm, Đức Giê-hô-va phán vậy.
37Angraeng mah hae tiah thuih; Van ranui ho na tah thai maw? Long angdoethaih ahmuen nasetto maw thuk, tiah na panoek thai maw? To hmuennawk panoek han rai parai baktih toengah Israel caanawk mah zaehaih sah o cadoeh, nihcae ka pahnawt sut hanah rai parai, tiah Angraeng mah thuih.
38Đức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, khi thành sẽ được xây lại cho Đức Giê-hô-va, từ tháp Ha-na-nê-ên cho đến cửa góc.
38Khenah, Hananel imsang hoi angtaeng koekah kaom khongkha khoek to, Angraeng hanah vangpui to sah o tih, tiah Angraeng mah thuih.
39Dây đo sẽ giăng thẳng qua trên đồi Ga-rép, và vòng quanh đến đất Gô-a.
39To ahmuen hoiah tahhaih qui to Gareb mae khoek to payuengh o ueloe, Goah ah caeh o haih tih.
40Cả nơi trũng của thây chết và tro, hết thảy đồng ruộng cho đến khe Xết-rôn và đến góc cửa ngựa về phía đông, đều sẽ được biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va, và đời đời sẽ không bị nhổ đi và đổ xuống nữa.
40Kadueh qok hoi maiphunawk vahhaih azawn, ni angyae bangah Kidron vacong taeng ih tangtling ahmuennawk boih hoi hrang khongkha ohhaih khoek to, Angraeng han hmuenciim ah om tih; vangpui loe natuek naah doeh aphong mak ai, phrae doeh phrae mak ai boeh, tiah Angraeng mah thuih.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.