Giê 26
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Lúc Giê-hô-gia-kim, con trai Giô-si-a, vua nước Giu-đa, bắt đầu trị vì, có lời nầy từ Đức Giê-hô-va phán ra:
1Josiah capa Judah siangpahrang Jehoiakim siangpahrang ah oh nathuem ah, Angraeng khae hoiah hae lok hae angzoh,
2Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ngươi khá đứng trong hành lang nhà Đức Giê-hô-va, rao những lời ta truyền ngươi nói lại cho các thành của Giu-đa đã đến đặng thờ lạy trong nhà Đức Giê-hô-va; chớ bớt một tiếng.
2Angraeng mah, Angraeng im thungah angdoeh loe, Sithaw bok han Angraeng im thungah angzo, Judah vangpui kaminawk boih khaeah, thuih han kang paek ih loknawk boih to thui ah; lokmu maeto doeh tahmat hmah;
3Hoặc giả chúng nó nghe ngươi, và ai nấy sẽ từ đường xấu mình trở lại; hầu cho ta ăn năn về họa mà ta định làm cho chúng nó, vì sự dữ của việc làm chúng nó.
3to tiah nahaeloe nihcae mah na lok to tahngai o ueloe, a sak o ih kahoih ai hmuen hoiah amlaem o let tih; kai mah doeh a sak o ih kahoih ai hmuen pongah nihcae danpaek han ka poekhaih to ka zuh let han, tiah a thuih.
4Vậy ngươi khá bảo rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nếu các ngươi không khứng nghe ta, mà bước theo luật pháp ta đã đặt trước mặt các ngươi;
4Angraeng mah, Ka lok na tahngai o ai moe, nangcae hmaa ah ka suek ih ka lok to na pazui o ai, tiah thuih, tiah thui paeh, tiah ang naa.
5nếu các ngươi không nghe lời của các đầy tớ ta, là các tiên tri mà ta sai đến cùng các ngươi, và đã dậy sớm sai đến, nhưng các ngươi không nghe họ,
5Khawnthaw ah kang thawk moe, nangcae khaeah ka tamna tahmaanawk to kang patoeh, toe nihcae mah thuih ih lok to na tahngai o ai, vaihi doeh lok na tahngai o ai nahaeloe,
6thì ta sẽ khiến nhà nầy nên như Si-lô, và sẽ khiến thành nầy nên sự rủa sả cho mọi nước trên đất.
6hae im hae Shiloh baktiah ka sak moe, hae vangpui doeh long kaminawk boih mah tangoeng ih vangpui ah ka sak han, tiah a thuih.
7Các thầy tế lễ, các tiên tri, và cả dân sự đều nghe Giê-rê-mi truyền những lời ấy trong nhà Đức Giê-hô-va.
7Jeremiah mah Angraeng im thungah thuih ih hae loknawk loe, qaimanawk, tahmaanawk hoi kaminawk boih mah thaih o.
8Khi Giê-rê-mi nói xong mọi điều Đức Giê-hô-va đã truyền mình nói cho cả dân sự, thì các thầy tế lễ, các tiên tri, và cả dân sự đều bắt lấy người và nói rằng: Ngươi chắc sẽ chết!
8Angraeng mah thuih han paek ih loknawk to Jeremiah mah kaminawk boih khaeah thuih pacoengah, qaimanawk, tahmaanawk hoi kaminawk boih mah anih to naeh o moe, Nang loe na duek han oh! tiah a naa o.
9Sao ngươi nhân danh Đức Giê-hô-va mà nói tiên tri rằng: Nhà nầy sẽ trở nên như Si-lô, thành nầy sẽ hoang vu và không dân ở? Bấy giờ cả dân sự nhóm lại cùng Giê-rê-mi trong nhà Đức Giê-hô-va.
9Tipongah hae im loe Shiloh baktiah om ueloe, hae vangpui doeh pong sut tih boeh, tiah Angraeng ih ahmin hoiah lok na thuih loe? tiah a naa o. Angraeng im ah kaom kaminawk boih nawnto amkhueng o moe, Jeremiah to kasae net o.
10Các quan trưởng Giu-đa nghe những sự ấy, bèn từ trong cung vua lên nhà Đức Giê-hô-va, ngồi tại lối vào của cửa mới nhà Đức Giê-hô-va.
10Judah ukkung angraengnawk mah to lok to thaih o naah, siangpahrang im hoiah Angraeng im ah caeh o tahang moe, Angraeng im khongkha kangtha ah anghnut o.
11Bấy giờ các thầy tế lễ và các tiên tri nói với các quan trưởng cùng cả dân sự rằng: Người nầy đáng chết; vì đã nói tiên tri nghịch cùng thành nầy, như chính tai các ngươi đã nghe.
11To naah qaimanawk hoi tahmaanawk mah, Nangmacae naa hoi na thaih o ih baktih toengah, Jeremiah mah hae vangpui amrohaih lok to thuih pongah, anih loe duek han krak! tiah ukkung angraengnawk hoi kaminawk khaeah a thuih pae o.
12Nhưng Giê-rê-mi đáp cùng các quan trưởng và cả dân sự rằng: Aáy là Đức Giê-hô-va sai ta đặng nói tiên tri mọi lời nghịch cùng nhà nầy và thành nầy, mà các ngươi đã nghe.
12To naah Jeremiah mah, ukkung angraengnawk boih hoi kaminawk khaeah, na thaih o ih lok baktih toengah, hae im hoi hae vangpui misa haih lok to taphong boih hanah, Angraeng mah ang patoeh, tiah a naa.
13Bây giờ các ngươi hãy sửa lại đường lối và việc làm của mình, hãy vâng theo tiếng của Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, thì Đức Giê-hô-va sẽ ăn năn về tai họa mà Ngài đã rao ra nghịch cùng các ngươi.
13Vaihi na sak o ih hmuennawk hoi na pazui o ih loklamnawk to caeh o taak ah loe, Angraeng ih lok to tahngai oh; to tiah nahaeloe nangcae paro han Angraeng mah thuih ih loknawk to azuk let tih.
14Về phần ta, nầy, ta ở trong tay các ngươi, hãy làm cho ta điều các ngươi cho là phải và đáng làm.
14Khenah, kai loe nangcae ban ah ni ka oh, hoih moe amsoem, tiah na poek o ih baktih toengah ka nuiah sah oh.
15Dầu vậy, khá biết chắc rằng các ngươi giết ta, thì các ngươi cùng thành nầy và dân cư nó sẽ gánh lấy huyết vô tội. Vì Đức Giê-hô-va thật đã sai ta đến cùng các ngươi, khiến ta nói mọi lời nầy vào tai các ngươi.
15Toe na panoek o han ih loe, kai nang hum o nahaeloe, zaehaih tawn ai kami athii longhaih atho loe nangmacae nuiah, hae vangpui nui hoi athung ah kaom kaminawk nuiah, na krah o sak tangtang tih, tiah panoek oh; hae loknawk boih na thaih o hanah, Angraeng mah ni kai hae nangcae khaeah patoeh, tiah a naa.
16Các quan trưởng và cả dân sự bèn nói cùng các thầy tế lễ và các tiên tri rằng: Người nầy không đáng chết; vì ấy là người nhân danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta mà nói cùng chúng ta.
16To naah ukkung angraeng hoi kaminawk boih mah, qaimanawk hoi tahmaanawk khaeah, Hae kami loe duek han krah ai! Anih loe Angraeng aicae Sithaw ih ahmin hoiah ni lok a thuih, tiah a naa o.
17Một vài kẻ trưởng lão trong đất đứng dậy nói với cả hội dân như vầy:
17Prae thung ih kacoehta thoemto kaminawk to angthawk o moe, amkhueng kaminawk khaeah,
18Mi-chê ở Mô-rê-sết, là người nói tiên tri về đời ê-xê-chia, vua Giu-đa, có nói cùng cả dân Giu-đa rằng: Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Si-ôn sẽ bị cày như ruộng, Giê-ru-sa-lem sẽ trở nên gò đống, núi của nhà sẽ trở nên như các nơi cao của rừng.
18Judah siangpahrang Hezekiah angraenghaih saning ah, Moresheth ih Mikah mah lok to thuih; Judah kaminawk boih khaeah, Angraeng Sithaw mah, Zion loe laikok baktiah atok tih, Jerusalem loe angpop sut thlung baktiah om ueloe, tempul ih mae doeh taw kapring baktiah om tih, tiah thuih.
19Ê-xê-chia, vua Giu-đa, và cả Giu-đa há có giết người sao? Người há chẳng đã kính sợ Đức Giê-hô-va và nài xin ơn Đức Giê-hô-va sao? Vậy nên Đức Giê-hô-va ăn năn về tai họa mà Ngài đã rao ra nghịch cùng họ. Nay chúng ta làm sự đó, ấy là phạm tội nặng nghịch cùng linh hồn mình.
19To naah Judah siangpahrang Hezekiah hoi Judah kaminawk mah anih to hum o maw? Hezekiah mah Angraeng to zit moe, Angraeng khaeah tahmenhaih hnik na ai maw? Nihcae amrosak hanah Angraeng mah thuih tangcae ih lok to azuh let na ai maw? Toe aicae loe kalen parai aimacae amrohaih to a oh o sak tom boeh, tiah a thuih o.
20Lại còn có một người nữa đã nhân danh Đức Giê-hô-va mà nói tiên tri: ấy là U-ri, con trai Sê-ma-gia, ở Ki-ri-át-Giê-a-rim. Người cũng nói tiên tri nghịch cùng thành và đất nầy y theo mọi lời của Giê-rê-mi.
20Kirjath Jearim ih kaom Shemaiah capa Uriah mah doeh, Angraeng ih ahmin hoiah lok to thuih toeng; hae vangpui hoi hae prae amrohaih kawng thuih ih lok loe, Jeremiah mah thuih ih lok hoiah anghmong.
21Vua Giê-hô-gia-kim, hết thảy quân lính, và các quan trưởng đều nghe những lời người, vua bèn muốn giết người đi; nhưng U-ri hay được, thì sợ và trốn qua đất Ê-díp-tô.
21Uriah mah thuih ih lok to siangpahrang Jehoiakim hoi anih ukkung angraengnawk, angmah ih thacak kaminawk mah, siangpahrang mah anih hum hanah patoem; to hmuen to Uriah mah thaih naah, zit pongah Izip prae ah cawnh ving;
22Vua Giê-hô-gia-kim bèn sai Eân-na-than, con trai Aïc-bồ, và mấy người nữa cùng đi qua Ê-díp-tô,
22to naah Jehoiakim mah, Akbor capa Elnathan hoi thoemto kaminawk to Izip prae ah patoeh.
23đem U-ri ra khỏi Ê-díp-tô và điệu về cho vua Giê-hô-gia-kim. Vua sai dùng gươm giết người và quăng thây trong mồ phàm dân.
23Izip prae hoiah Uriah to hoih o moe, Jehoiakim siangpahrang khaeah caeh o haih; siangpahrang mah Uriah to sumsen hoiah hum, kadueh qok to kamtang kaminawk ih taprong ah a vah sut.
24Bấy giờ tay A-hi-cam, con trai Sa-phan, binh vực Giê-rê-mi và gàn trở cho khỏi phó người trong tay dân chúng đặng làm cho chết.
24Toe Shaphan capa Ahikam mah Jeremiah to angdoet haih pongah, anih to hum hanah kaminawk ban ah paek o ai.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.