Неємії
Chapter 2

Неємії

Kulish and Puluj Bible (…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Неємії 2

Kulish and Puluj Bible (1905)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1В місяцї Нисанї, на двайцятім року царя Артаксеркса, стояло перед ним вино. І я взяв вино та подав цареві, і, здавалось, не був я смутний перед ним.
1Đang năm thứ hai mươi đời vua Aït-ta-xét-xe, tháng Ni-san, rượu sẵn ở trước mặt người, tôi lấy rượu dâng cho vua; trước tôi không hề có bộ buồn rầu tại trước mặt người.
2Але царь промовив до мене: Чого ти сумний на виду; ти не слабий, сього не видко, а певно смуток на серцї? Я злякався вельми,
2Vua nói với tôi rằng: Nhân sao ngươi mặt mày buồn, dầu mà ngươi không có bịnh? Điều đó chỉ là sự buồn rầu trong lòng mà thôi. Bấy giờ tôi lấy làm sợ hãi lắm,
3І сказав цареві: Нехай живе царь по вік! Як же не має бути смутним лице моє, коли город, місце гробовищ батьків моїх, стоїть опустошене, й ворота його попалені огнем!
3bèn nói với vua rằng: Nguyện vua vạn tuế! Lẽ nào mặt tôi không buồn, khi cái thành, là nơi có mồ mả của tổ phụ tôi, bị phá hoang, và các cửa thành bị lửa thiêu đốt?
4І сказав царь до мене: Чого ж ти бажаєш? Я помолився Богові небесному,
4Vua hỏi tôi rằng: Ngươi cầu xin cái gì? Tôi bèn cầu nguyện cùng Đức Chúa của các từng trời,
5І сказав цареві: Коли царська ласка, й коли слуга твій запобіг ласки перед лицем твоїм, то пошли мене в Юдею, в місто, де гробовища батьків моїх, щоб я одбудував його.
5rồi tâu với vua rằng: Nếu vua thấy điều đó là tốt lành, nếu kẻ tôi tớ vua được ơn trước mặt vua, xin vua hãy sai tôi về Giu-đa, đến thành có mồ mả của tổ phụ tôi, để tôi xây cất thành ấy lại.
6І сказав менї царь і цариця, що седїла коло його: Як довго протягнеться твоя вандрівка, й коли вернешся? І сподобалось цареві послати мене; й я означив час.
6Đang khi ấy hoàng hậu cũng ngồi bên cạnh vua. Vua bèn hỏi tôi rằng: Ngươi đi đường lâu chừng bao nhiêu, và khi nào ngươi trở về? Vậy, vua đẹp lòng sai tôi đi, và tôi định nhựt kỳ cho người.
7І сказав я цареві: Коли царська ласка, то дав би менї листи до зарічних начальників краєвих, щоб давали менї пропуст, доки я не дійду до Юдеї,
7Tôi cũng thưa với vua rằng: Nếu điều này được đẹp lòng vua, xin vua hãy trao cho tôi những bức thơ truyền các qua tổng trấn bên kia sông cho phép tôi đi ngang qua cho đến khi tôi tới Giu-đa
8Та й лист до Асафа, доглядника лїсів царських, щоб дав менї деревнї на ворота в твердинї, що при домі Божому, й на міські мури, та на дім, в котрому б менї жити. І дав менї царь, бо добродїйна рука Бога мого була надо мною.
8lại ban chiếu chỉ cho A-sáp, kẻ giữ rừng vua, truyền người cho tôi gỗ làm khuôn cửa của thành điện giáp với đền và làm vách thành, cùng nhà mà tôi phải vào ở. Vua bèn ban cho tôi các điều đó, tùy theo tay nhân lành của Đức Chúa Trời tôi giúp đỡ tôi.
9І прийшов я до зарічних начальників краєвих і віддав їм письма царські. А царь послав був зо мною військових начальників із верховцями.
9Vậy, tôi đến cùng các quan tổng trấn bên kia sông, vào trao cho họ những bức thơ của vua. Vả, vua có sai những quan tướng và quân kỵ đi với tôi.
10Коли перечув про се Санаваллат, Хороніт і Товія, слуга Амманицький, то їм стало дуже досадно, що прийшов чоловік піклуватись про добро синів Ізрайлевих.
10Khi San-ba-lát, người Hô-rôn, và Tô-bi-gia, là kẻ tôi tớ Am-môn, hay điều đó, thì lấy làm bất bình vì có người đến đặng tìm kiếm sự hưng thạnh của dân Y-sơ-ra-ên.
11І прийшов я в Ерусалим. І пробув там три днї,
11Vậy, tôi đến Giê-ru-sa-lem và ở tại đó ba ngày.
12І встав я вночі, і кілька чоловік зо мною, і нїкому не сказав, що поклав Бог мій менї на серце зробити для Ерусалиму; животини ж не було при менї нїякої, окрім тієї, що на їй я їхав.
12Tôi và mấy người cùng theo tôi, bèn chổi dậy ban đêm; tôi chẳng cho ai hay biết sự gì Đức Chúa Trời đã khiến lòng tôi toan làm vì Giê-ru-sa-lem; lại ngoài con thú tôi cỡi thì chẳng có con thú nào khác ở với tôi.
13І проїхав я вночі через Долинні ворота перед Драконовою криницею до воріт Гнояних, і оглядїв я розвалені мури Ерусалиму й його ворота, спалені огнем.
13Ban đêm tôi ra nơi cửa Trũng, đối ngang suối chó rừng, và đến cửa phân, xem xét các vách thành của Giê-ru-sa-lem bị hư nát, và các cửa nó bị lửa thiêu đốt.
14І приїхав я до воріт Криничаних і до царського водопроводу, але там не було місця, щоб пройти животинї, що була підо мною,
14Đoạn, tôi đi qua cửa Giếng, và đến nơi ao của vua; song không có nơi nào đặng cho con thú tôi cỡi đi ngang qua được.
15І я поїхав назад через потік вночі й оглядав мур, і, проїхавши знов через Долинні ворота, вернувся.
15Kế đó, ban đêm tôi bắt đường khe đi lên, xem xét vách thành; rồi tôi thối lại, vào nơi cửa Trũng mà trở về.
16І не знали начальники, куди я ходив, та що я роблю: нї Юдеям, нї сьвященникам, нї суддям, нї старшинам, нї иншим робітникам я до того часу нїчого не казав.
16Vả, các quan trưởng không hiểu tôi đi đâu, nào rõ tôi làm gì; và đến chừng ấy, tôi chưa tỏ ra cho người Giu-đa, hoặc cho những thầy tế lễ, hoặc cho kẻ quyền quí, hoặc cho quan trưởng, hay là cho các người khác lo làm công việc, được biết gì đến.
17Опісля же сказав я їм: Ви бачите нужду, в якій ми знаходимось: Ерусалим спустошений, й ворота його спалені огнем; ходїм, побудуймо мури Ерусалимські й не будьмо довше в пониженнї.
17Tôi bèn nói với chúng rằng: Các ngươi hãy xem tình cảnh khổ nạn của chúng ta đang đây; Giê-ru-sa-lem bị phá hoang, và các cửa nó bị lửa thiêu đốt. Hãy đến, xây cất các vách thành Giê-ru-sa-lem lại, hầu cho chúng ta chẳng còn bị sỉ nhục nữa.
18І я оповідав їм про добродїйну для мене руку Бога мого, а так само й слова царя, що він говорив менї. І сказали вони: будемо будувати, — і скріпили руки свої на добре дїло.
18Tôi cũng thuật cho chúng làm sao tay nhân từ của Đức Chúa Trời tôi đã giúp đỡ tôi, và các lời vua đã nói cùng tôi. Chúng nói: Hè, ta hãy chổi dậy và xây sửa lại! Vậy, chúng được vững chắc trong ý nhất định làm công việc tốt lành này.
19Почувши про се, Санаваллат, Хороніт та Товія, слуга Амманицький, та Гешем, Араб, сьміялись із нас і говорили з погордою: Що се за дїло, що ви робите? Чи не задумуєте ви часом збунтуватись проти царя?
19San-ba-lát, người Hô-rôn, Tô-bi-gia, kẻ tôi tớ Am-môn, và Ghê-sem, người A rạp, được hay việc đó, bèn nhạo báng và khinh bỉ chúng tôi. Chúng nó nói rằng: Các ngươi làm chi đó? Các ngươi có ý phản nghịch vua sao?
20Я дав їм одповідь і сказав їм: Бог небесний, Він нам допоможе, а ми, слуги його, розпочнемо будувати; вам же нема частки, нї права нї згадки про вас у Ерусалимі.
20Tôi bèn đáp với chúng nó rằng: Đức Chúa của các từng trời sẽ ban cho chúng ta sự hanh thông; vì vậy, chúng ta, là tôi tớ Ngài, sẽ chổi dậy và xây sửa lại; nhưng các ngươi không có phần, hoặc phép, hoặc kỷ niệm trong Giê-ru-sa-lem.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.