Nê 9
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Freedom Bible (Thai)
1Ngày hai mươi bốn tháng ấy, dân Y-sơ-ra-ên nhóm lại, cữ ăn, mặc bao và phủ bụi đất.
1วันที่ยี่สิบสี่ของเดือนนั้น ชาวอิสราเอลมารวมตัวกัน อดอาหาร สวมผ้ากระสอบ และมีดินอยู่บนตัว
2Dòng Y-sơ-ra-ên chia rẽ các người ngoại, đứng dậy xưng tội lỗi mình và sự gian ác của tổ phụ mình.
2เชื้อสายอิสราเอลแยกตัวจากคนต่างชาติทั้งหมด ยืนสารภาพบาปของตนและความชั่วของบรรพบุรุษ
3Chúng đứng dậy tại chỗ mình, đọc trong sách luật pháp của Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, lâu đến phần tư ngày: trong một phần tư khác, chúng xưng tội và thờ lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ.
3พวกเขายืนอยู่ประจำที่ อ่านหนังสือธรรมบัญญัติของพระยาห์เวห์ พระเจ้าของตน เป็นเวลาหนึ่งในสี่ของวัน และใช้เวลาอีกหนึ่งในสี่ของวันสารภาพบาปและนมัสการพระยาห์เวห์ พระเจ้าของตน
4Bấy giờ, Giê-sua, Ba-ni, Cát-mi-ên, Sê-ba-nia, Bun-ni, Sê-rê-bia, Ba-ni, và Kê-na-ni, đứng dậy tại trên sạp người Lê-vi, và kêu cầu lớn tiếng cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình.
4ชาวเลวี คือเยชูอา บานี คัดมีเอล เชบานยาห์ บุนนี เชเรบิยาห์ บานี และเคนานี ยืนบนบันได ร้องเรียกพระยาห์เวห์ พระเจ้าของพวกเขา ด้วยเสียงดัง
5Khi ấy những người Lê-vi, là Giê-sua, Cát-mi-ên, Ba-ni, Ha-sáp-nia, Sê-rê-bia, Hô-đia, Sê-ba-nia, và Phê-ta-hia nói rằng: Hãy đứng dậy, ngợi khen Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi, là Đấng hằng có đời đời kiếp kiếp! Đáng ngợi khen danh vinh hiển của Ngài, vẫn trổi cao hơn các sự chúc tụng và các lời khen ngợi.
5แล้วชาวเลวี คือเยชูอา คัดมีเอล บานี ฮาชับเนยาห์ เชเรบิยาห์ โฮดิยาห์ เชบานยาห์ และเปธาหิยาห์ กล่าวว่า “จงยืนขึ้นสรรเสริญพระยาห์เวห์ พระเจ้าของพวกคุณ ตั้งแต่นิรันดร์กาลถึงนิรันดร์กาล! ขอพระนามอันรุ่งโรจน์ของพระองค์ได้รับการสรรเสริญ พระนามนั้นสูงส่งเหนือคำอวยพรและคำสรรเสริญทั้งปวง
6Oâi! chỉ một mình Chúa là Đức Giê-hô-va có một không hai; Chúa đã dựng nên các từng trời, và trời của các từng trời, cùng toàn cơ binh của nó, trái đất và các vật ở trên nó, biển và muôn vật ở dưới nó Chúa bảo tồn những vật ấy, và cơ binh của các từng trời đều thờ lạy Chúa.
6พระองค์เพียงผู้เดียวคือพระยาห์เวห์ พระองค์สร้างสวรรค์ สวรรค์ชั้นสูงสุดและกองทัพทั้งหมดในนั้น แผ่นดินและทุกสิ่งบนแผ่นดิน ทะเลและทุกสิ่งในทะเล พระองค์ค้ำจุนสิ่งเหล่านี้ทั้งหมด กองทัพแห่งสวรรค์นมัสการพระองค์
7Chúa ôi! Chúa là Giê-hô-va Đức Chúa Trời mà đã chọn Aùp-ram, đem người ra khỏi U-rơ của dân Canh-đê, và ban cho người tên Aùp-ra-ham.
7พระองค์คือพระยาห์เวห์ พระเจ้าผู้เลือกอับราม พาเขาออกจากอูร์ของชาวเคลเดีย และให้ชื่อเขาว่าอับราฮัม
8Chúa thấy lòng người trung thành tại trước mặt Chúa, và Chúa lập giao ước với người, đặng ban cho dòng dõi người xứ của dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Phê-rê-sít, dân Giê-bu-sít, và dân Ghi-rê-ga-sít; Chúa có làm ứng nghiệm lời của Chúa, vì Chúa là công bình.
8พระองค์พบว่าเขามีใจซื่อสัตย์ต่อพระองค์ จึงทำพันธสัญญากับเขาว่าจะมอบแผ่นดินของชาวคานาอัน ชาวฮิตไทต์ ชาวอาโมไรต์ ชาวเปริสซี ชาวเยบุส และชาวเกอร์กาชีให้แก่เชื้อสายของเขา พระองค์ทำตามถ้อยคำของพระองค์ เพราะพระองค์เที่ยงธรรม
9Chúa có thấy sự khốn khổ của tổ phụ chúng tôi tại Ê-díp-tô, có nghe tiếng kêu la của chúng tại bên Biển đỏ,
9“พระองค์เห็นความทุกข์ยากของบรรพบุรุษเราในอียิปต์ และได้ยินเสียงร้องของพวกเขาที่ทะเลแดง
10làm những dấu kỳ phép lạ nơi Pha-ra-ôn, nơi đầy tớ người và nơi toàn dân sự của nước người; vì Chúa biết rằng họ có đối đãi tổ phụ chúng tôi cách kiêu căng, và Chúa có làm nổi danh Chúa như thể ngày nay.
10พระองค์สำแดงหมายสำคัญและการอัศจรรย์ต่อฟาโรห์ ผู้รับใช้ทั้งหมดของเขา และประชาชนทั้งแผ่นดิน เพราะรู้ว่าคนเหล่านั้นปฏิบัติต่อบรรพบุรุษเราอย่างเย่อหยิ่ง พระองค์จึงทำให้พระนามเป็นที่เลื่องลือมาจนถึงวันนี้
11Chúa có phân rẽ biển trước mặt chúng nó, để chúng nó đi ngang qua giữa biển trên đất khô; còn những kẻ đuổi theo, Chúa bèn ném họ dưới vực sâu, như ném đá trong nước lớn.
11พระองค์แยกทะเลต่อหน้าพวกเขา ให้เดินผ่านกลางทะเลบนพื้นแห้ง และเหวี่ยงผู้ไล่ตามลงสู่ห้วงลึก เหมือนก้อนหินจมลงในกระแสน้ำอันเชี่ยวกราก
12Ban ngày, Chúa dẫn dắt chúng bằng một trụ mây, và ban đêm bằng một trụ lửa, để chiếu sáng cho chúng trong con đường phải đi theo.
12พระองค์นำพวกเขาด้วยเสาเมฆในเวลากลางวัน และเสาไฟในเวลากลางคืน เพื่อส่องสว่างทางที่พวกเขาต้องเดิน
13Chúa cũng giáng lâm tại trên núi Si-na-i, phán với chúng từ trên trời, ban cho chúng những luật lệ ngay thẳng, pháp độ chân thật, và những qui tắc cùng điều răn tốt lành.
13“พระองค์ลงมาบนภูเขาซีนาย พูดกับพวกเขาจากสวรรค์ และให้ข้อปฏิบัติที่เที่ยงตรง ธรรมบัญญัติที่เป็นจริง ข้อกำหนดและคำบัญชาที่ดี
14Chúa khiến cho chúng biết ngày sa-bát thánh của Chúa, cậy Môi-se, tôi tớ của Chúa, truyền cho chúng những điều răn, qui tắc, và luật pháp.
14พระองค์ทำให้พวกเขารู้จักวันสะบาโตอันบริสุทธิ์ของพระองค์ และให้คำบัญชา ข้อกำหนด และธรรมบัญญัติแก่พวกเขาผ่านโมเสส ผู้รับใช้ของพระองค์
15Từ các từng trời, Chúa ban cho chúng bánh đặng ăn đói, khiến hòn đá chảy ra nước cho chúng uống khát, phán biểu chúng vào nhận lấy xứ mà Chúa đã thề ban cho chúng.
15เมื่อพวกเขาหิว พระองค์ให้ขนมปังจากฟ้า เมื่อกระหาย พระองค์ให้น้ำไหลออกจากหิน และสั่งให้พวกเขาเข้าไปครอบครองแผ่นดินที่พระองค์สาบานว่าจะให้
16Nhưng tổ phụ chúng tôi cư xử cách kiêu hãnh cứng cổ mình, không nghe các điều răn của Chúa,
16“แต่พวกเขาและบรรพบุรุษของเรา กลับเย่อหยิ่ง ดื้อรั้น ไม่ฟังคำบัญชาของพระองค์
17chẳng khứng vâng theo và không nhớ đến các phép lạ mà Chúa đã làm giữa chúng; nhưng chúng cứng cổ mình, và trong sự bội nghịch mình cắt một kẻ làm đầu đặng trở về nơi nô lệ của họ. Nhưng Chúa vốn một Đức Chúa Trời sẵn tha thứ, hay làm ơn, và thương xót, chậm nóng giận, và dư đầy nhân từ, Chúa không có lìa bỏ chúng.
17พวกเขาไม่ยอมเชื่อฟัง ไม่ใส่ใจการอัศจรรย์ที่พระองค์ทำท่ามกลางพวกเขา กลับดื้อรั้นและกบฏ แต่งตั้งผู้นำขึ้นเพื่อกลับไปเป็นทาส แต่พระองค์เป็นพระเจ้าผู้พร้อมให้อภัย เปี่ยมด้วยความกรุณาและความเมตตา ไม่โกรธง่าย และมีความรักมั่นคงอย่างล้นเหลือ พระองค์ไม่ได้ทอดทิ้งพวกเขา
18Dẫu khi chúng làm một con bò con đực, mà rằng: Nầy là thần đã dẫn các ngươi lên khỏi Ê-díp-tô, và chọc cho Chúa giận nhiều,
18แม้พวกเขาหล่อรูปลูกวัวขึ้นมาและกล่าวว่า ‘นี่คือพระเจ้าของพวกคุณ ผู้พาพวกคุณออกจากอียิปต์’ และลบหลู่พระองค์อย่างร้ายแรง
19thì Chúa vì sự thương xót của Chúa, không lìa bỏ chúng trong đồng vắng; trụ mây dẫn đường ban ngày, không lìa khỏi trên chúng, hoặc trụ lửa lúc ban đêm chiếu sáng và chỉ cho chúng con đường chúng phải đi.
19พระองค์ก็ยังไม่ทอดทิ้งพวกเขาในถิ่นทุรกันดาร เพราะมีความเมตตามากมาย เสาเมฆไม่ได้จากไปในเวลากลางวัน แต่ยังนำทางพวกเขา เสาไฟก็ไม่ได้จากไปในเวลากลางคืน แต่ยังส่องสว่างให้เห็นทางที่ต้องเดิน
20Chúa cũng ban cho chúng Thần linh lương thiện của Chúa, để dạy dỗ cho chúng, không từ chối cho miệng chúng ăn ma-na, và ban cho chúng nước đặng uống khát.
20พระองค์ให้พระวิญญาณอันดีของพระองค์สั่งสอนพวกเขา ไม่ปล่อยให้มานาของพระองค์ขาดปากพวกเขา และให้น้ำเมื่อพวกเขากระหาย
21Phải, Chúa nuôi dưỡng chúng bốn mươi năm trong đồng vắng: chúng chẳng thiếu thốn chi cả; quần áo chúng không cũ rách, và chân chúng chẳng phù lên.
21“พระองค์เลี้ยงดูพวกเขาในถิ่นทุรกันดารถึงสี่สิบปี พวกเขาไม่ขาดอะไรเลย เสื้อผ้าไม่เก่า และเท้าไม่บวม
22Vả lại, Chúa ban cho chúng những nước và dân tộc, và phân phát nước ấy cho chúng; chúng nhận được nước của Si-hôn, tức nước của vua Hết-bôn, và nước của Oùc, vua Ba-san.
22พระองค์มอบอาณาจักรและชนชาติทั้งหลายแก่พวกเขา แบ่งให้ตามส่วนของพวกเขา พวกเขาจึงครอบครองแผ่นดินของสิโหน กษัตริย์เฮชโบน และแผ่นดินของโอก กษัตริย์บาชาน
23Chúa cũng thêm nhiều con cháu chúng đông như sao trên trời, đưa chúng vào xứ mà Chúa đã phán cùng tổ phụ chúng rằng chúng sẽ vào đó đặng nhận lấy xứ ấy.
23พระองค์เพิ่มจำนวนลูกหลานของพวกเขาให้มากเหมือนดาวบนฟ้า และพาเข้าสู่แผ่นดินที่พระองค์บอกบรรพบุรุษของพวกเขาไว้ว่าให้เข้าไปครอบครอง
24Vậy, con cháu chúng bèn vào và nhận lấy xứ, và Chúa bắt phục trước mặt họ các dân của xứ, là dân Ca-na-an, phó dân ấy và những vua chúng nó cùng các dân tộc của xứ vào tay họ, đặng họ đãi các dân ấy theo ý mình muốn.
24“ลูกหลานเหล่านั้นจึงเข้าไปครอบครองแผ่นดิน พระองค์ปราบชาวคานาอันที่อาศัยอยู่ในแผ่นดินนั้นต่อหน้าพวกเขา มอบคนเหล่านั้น ทั้งกษัตริย์และประชาชนในแผ่นดินไว้ในมือพวกเขา ให้จัดการได้ตามใจ
25Họ chiếm lấy những thành bền vững, và ruộng đất mầu mỡ, được những nhà đầy các vật tốt lành, nhưng giếng đào, vườn nho, vườn ô-li-ve, và cây trái rất nhiều; chúng ăn, bèn được no nê, và mập béo, vui lòng trong sự nhân từ lớn lao của Chúa.
25พวกเขายึดเมืองที่มีป้อมและแผ่นดินอุดมสมบูรณ์ ได้ครอบครองบ้านที่เต็มด้วยของดี บ่อเก็บน้ำที่ขุดไว้แล้ว สวนองุ่น สวนมะกอก และไม้ผลมากมาย พวกเขากินจนอิ่ม อ้วนท้วน และชื่นชมความดีอันยิ่งใหญ่ของพระองค์
26Dầu vậy, chúng chẳng vâng theo, bèn phản nghịch với Chúa, ném bỏ luật pháp Chúa sau lưng, giết các đấng tiên tri của Chúa, là người làm chứng nghịch cùng họ đặng đem họ trở lại cùng Chúa; song chúng lại chọc giận Chúa nhiều thay.
26“ถึงกระนั้นพวกเขาก็ไม่เชื่อฟังและกบฏต่อพระองค์ โยนธรรมบัญญัติของพระองค์ทิ้งไว้ข้างหลัง ฆ่าผู้เผยพระวจนะของพระองค์ที่กล่าวเตือนให้พวกเขากลับมาหาพระองค์ และลบหลู่พระองค์อย่างร้ายแรง
27Vì vậy, Chúa phó họ vào tay cừu địch của họ; chúng nó hà hiếp họ. Trong thời hoạn nạn chúng kêu cầu cùng Chúa, thì từ các từng trời Chúa có nghe đến; theo lòng nhân từ lớn lao của Chúa, Chúa bèn ban cho những đấng giải cứu để cứu chúng khỏi tay kẻ cừu địch mình.
27พระองค์จึงมอบพวกเขาไว้ในมือศัตรูที่ทำให้ทุกข์ยาก แต่ในยามเดือดร้อน เมื่อร้องหาพระองค์ พระองค์ฟังจากสวรรค์ และด้วยความเมตตามากมาย พระองค์ให้ผู้ช่วยกู้มาช่วยพวกเขาให้พ้นมือศัตรู
28Nhưng khi chúng được an tịnh, bèn khởi làm lại điều ác trước mặt Chúa; vì vậy, Chúa bỏ chúng vào tay kẻ thù nghịch để quản hạt chúng; song khi chúng trở lại, kêu cầu cùng Chúa, thì Chúa từ trên trời nghe đến, và vì lòng thương xót Chúa, nên giải cứu chúng nhiều lần.
28แต่พอได้พักสงบ พวกเขาก็ทำชั่วต่อพระองค์อีก พระองค์จึงปล่อยพวกเขาไว้ในมือศัตรูให้ศัตรูปกครอง แต่เมื่อพวกเขากลับมาร้องหาพระองค์ พระองค์ก็ฟังจากสวรรค์ ช่วยพวกเขาให้พ้นภัยหลายครั้งด้วยความเมตตา
29Chúa cũng làm chứng nghịch cùng chúng, để dẫn dắt chúng trở lại luật pháp của Ngài. Dầu vậy, chúng cư xử cách kiêu ngạo không nghe các điều răn Chúa, phạm đến luật lệ của Chúa, là luật lệ nếu người nào vâng làm theo, tất sẽ được sống; chúng ở chấp nhất, cứng cổ mình, và không khứng nghe theo.
29พระองค์เตือนพวกเขาเพื่อให้กลับมาหาธรรมบัญญัติ แต่พวกเขาเย่อหยิ่ง ไม่ฟังคำบัญชาของพระองค์ กลับละเมิดข้อปฏิบัติของพระองค์ ซึ่งถ้าใครทำตามก็จะมีชีวิตอยู่ได้ด้วยข้อปฏิบัตินั้น พวกเขาหันหลังให้ ดื้อรั้น และไม่ยอมฟัง
30Chúa dung thứ chúng nhiều năm và cậy Thần linh và các tiên tri của Chúa mà làm chứng nghịch cùng chúng; nhưng chúng không lắng tai nghe, nên Chúa phó chúng vào tay dân tộc của các xứ.
30พระองค์อดทนต่อพวกเขาหลายปี และใช้พระวิญญาณของพระองค์กล่าวเตือนผ่านผู้เผยพระวจนะ แต่พวกเขาก็ไม่ยอมฟัง พระองค์จึงมอบพวกเขาไว้ในมือชนชาติในแผ่นดินต่าง ๆ
31Song, vì lòng thương xót lớn lao của Chúa, Chúa không có tận diệt chúng, cũng không lìa bỏ chúng; vì Chúa vốn là Đức Chúa Trời hay thương xót và nhân từ.
31“ถึงกระนั้น ด้วยความเมตตามากมาย พระองค์ไม่ได้ทำลายพวกเขาจนหมดสิ้นหรือทอดทิ้งพวกเขา เพราะพระองค์เป็นพระเจ้าผู้เปี่ยมด้วยความกรุณาและความเมตตา
32Vậy bây giờ, hỡi Đức Chúa Trời của chúng tôi ơi! là Đức Chúa Trời rất lớn rất quyền năng và đáng sợ, hằng giữ giao ước và sự nhân từ, xin chớ coi nhỏ mọn trước mặt Chúa các việc đau đớn cực nhọc đã giáng trên chúng tôi, trên các vua và các quan trưởng, trên những thầy tế lễ và các tiên tri, trên tổ phụ chúng tôi, và trên hết thảy dân sự của Chúa, từ đời các vua A-si-ri cho đến ngày nay.
32บัดนี้ พระเจ้าของพวกเรา พระเจ้าผู้ยิ่งใหญ่ ทรงพลัง และน่าเกรงขาม ผู้รักษาพันธสัญญาและความรักมั่นคง โปรดอย่ามองว่าความทุกข์ยากทั้งหมดที่ตกแก่เราเป็นเรื่องเล็กน้อย ทั้งที่ตกแก่กษัตริย์ ผู้นำ ปุโรหิต ผู้เผยพระวจนะ บรรพบุรุษ และประชาชนทั้งหมดของพระองค์ ตั้งแต่สมัยกษัตริย์อัสซีเรียจนถึงวันนี้
33Trong mọi việc đã xảy đến cho chúng tôi, Chúa vẫn là công bình; vì Chúa thi hành cách chân thật, còn chúng tôi lại làm cách hung ác.
33พระองค์ยุติธรรมในทุกสิ่งที่เกิดแก่เรา พระองค์ปฏิบัติอย่างซื่อตรง แต่เราเองทำชั่ว
34Các vua chúng tôi, các quan trưởng, những thầy tế lễ, và tổ phụ chúng tôi, không có gìn giữ luật pháp của Chúa, cũng chẳng nghe theo các điều răn và chứng cớ mà Chúa phán dạy nghịch cùng chúng.
34กษัตริย์ ผู้นำ ปุโรหิต และบรรพบุรุษของเราไม่ได้รักษาธรรมบัญญัติของพระองค์ ไม่ฟังคำบัญชาและคำเตือนที่พระองค์ใช้เตือนพวกเขา
35Tại trong xứ của chúng, giữa điều ơn lành dư dật mà Chúa đã ban cho chúng, tại trong đất rộng rãi và màu mỡ mà Chúa đã đặt trước mặt chúng, chúng không phục sự Chúa, chẳng trở bỏ các công việc ác của họ.
35แม้อยู่ในอาณาจักรของตน ได้รับความดีอันยิ่งใหญ่จากพระองค์ และได้อยู่ในแผ่นดินกว้างใหญ่ที่อุดมสมบูรณ์ซึ่งพระองค์มอบให้ พวกเขาก็ไม่รับใช้พระองค์ ไม่หันจากการกระทำชั่ว
36Kìa, ngày nay chúng tôi làm tôi mọi; này chúng tôi làm tôi trong xứ mà Chúa đã ban cho tổ phụ chúng tôi để ăn bông trái và thổ sản tốt tươi của nó.
36“โปรดดูเถิด วันนี้เราเป็นผู้รับใช้ ทั้งในแผ่นดินที่พระองค์ให้บรรพบุรุษของเราได้กินผลผลิตและสิ่งดีจากแผ่นดินนั้น ดูเถิด เราเป็นผู้รับใช้อยู่ในนั้น
37Xứ sanh ra nhiều thổ sản cho các vua mà Chúa đã lập trên chúng tôi tại cớ tội lỗi của chúng tôi: các vua ấy cũng tự ý mình lấn lướt trên thân thể chúng tôi và các súc vật của chúng tôi, và chúng tôi đang bị hoạn nạn lớn.
37ผลผลิตมากมายของแผ่นดินตกแก่กษัตริย์ที่พระองค์ให้ปกครองเราเพราะบาปของเรา กษัตริย์เหล่านั้นมีอำนาจเหนือร่างกายและฝูงสัตว์ของเราตามใจชอบ พวกเราอยู่ในความทุกข์ยากอย่างหนัก
38Dầu các sự này, chúng tôi lập giao ước chắc chắn, và chúng tôi ghi chép nó các quan trưởng, người Lê-vi, và những thầy tế lễ của chúng tôi đóng ấn cho.
38ถึงกระนั้น เพราะเรื่องทั้งหมดนี้ เราก็ทำพันธสัญญาที่แน่นอนและเขียนไว้ แล้วผู้นำ ชาวเลวี และปุโรหิตของเราประทับตรา”
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.