Nê 2
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Freedom Bible (Thai)
1Đang năm thứ hai mươi đời vua Aït-ta-xét-xe, tháng Ni-san, rượu sẵn ở trước mặt người, tôi lấy rượu dâng cho vua; trước tôi không hề có bộ buồn rầu tại trước mặt người.
1ในเดือนนิสาน ปีที่ยี่สิบแห่งรัชกาลกษัตริย์อารทาเซอร์ซีส เมื่อมีเหล้าองุ่นอยู่ตรงหน้ากษัตริย์ ข้าพเจ้าหยิบเหล้าองุ่นถวาย ก่อนหน้านั้นข้าพเจ้าไม่เคยแสดงความเศร้าต่อหน้าพระองค์
2Vua nói với tôi rằng: Nhân sao ngươi mặt mày buồn, dầu mà ngươi không có bịnh? Điều đó chỉ là sự buồn rầu trong lòng mà thôi. Bấy giờ tôi lấy làm sợ hãi lắm,
2กษัตริย์ถามว่า “ทำไมเจ้าจึงมีสีหน้าเศร้า ทั้งที่ไม่ได้ป่วย อย่างนี้คงเป็นความทุกข์ใจแน่” ข้าพเจ้ากลัวมาก
3bèn nói với vua rằng: Nguyện vua vạn tuế! Lẽ nào mặt tôi không buồn, khi cái thành, là nơi có mồ mả của tổ phụ tôi, bị phá hoang, và các cửa thành bị lửa thiêu đốt?
3จึงทูลตอบกษัตริย์ว่า “ขอให้กษัตริย์มีชีวิตยืนยาวตลอดไป! ข้าพเจ้าจะไม่เศร้าได้อย่างไร ในเมื่อเมืองที่เป็นที่ฝังศพบรรพบุรุษของข้าพเจ้ารกร้าง และประตูเมืองถูกไฟเผาจนหมด”
4Vua hỏi tôi rằng: Ngươi cầu xin cái gì? Tôi bèn cầu nguyện cùng Đức Chúa của các từng trời,
4กษัตริย์ถามว่า “เจ้าต้องการอะไร?” ข้าพเจ้าจึงอธิษฐานต่อพระเจ้าแห่งสวรรค์
5rồi tâu với vua rằng: Nếu vua thấy điều đó là tốt lành, nếu kẻ tôi tớ vua được ơn trước mặt vua, xin vua hãy sai tôi về Giu-đa, đến thành có mồ mả của tổ phụ tôi, để tôi xây cất thành ấy lại.
5แล้วทูลกษัตริย์ว่า “หากพระองค์เห็นชอบ และหากพระองค์พอใจผู้รับใช้ของพระองค์ ข้าพเจ้าขอให้พระองค์ส่งข้าพเจ้าไปยังยูดาห์ ไปยังเมืองที่เป็นที่ฝังศพบรรพบุรุษ เพื่อสร้างเมืองนั้นขึ้นใหม่”
6Đang khi ấy hoàng hậu cũng ngồi bên cạnh vua. Vua bèn hỏi tôi rằng: Ngươi đi đường lâu chừng bao nhiêu, và khi nào ngươi trở về? Vậy, vua đẹp lòng sai tôi đi, và tôi định nhựt kỳ cho người.
6ขณะนั้นราชินีก็นั่งอยู่ข้างพระองค์ กษัตริย์ถามข้าพเจ้าว่า “เจ้าจะเดินทางนานเท่าไร และจะกลับมาเมื่อไร?” กษัตริย์พอใจที่จะส่งข้าพเจ้าไป ข้าพเจ้าจึงกำหนดเวลาทูลให้พระองค์ทราบ
7Tôi cũng thưa với vua rằng: Nếu điều này được đẹp lòng vua, xin vua hãy trao cho tôi những bức thơ truyền các qua tổng trấn bên kia sông cho phép tôi đi ngang qua cho đến khi tôi tới Giu-đa
7ข้าพเจ้าทูลต่อว่า “หากพระองค์เห็นชอบ ขอพระองค์มอบจดหมายถึงผู้ว่าราชการในดินแดนฟากแม่น้ำให้ข้าพเจ้า เพื่อพวกเขาจะอนุญาตให้ข้าพเจ้าผ่านไปจนถึงยูดาห์
8lại ban chiếu chỉ cho A-sáp, kẻ giữ rừng vua, truyền người cho tôi gỗ làm khuôn cửa của thành điện giáp với đền và làm vách thành, cùng nhà mà tôi phải vào ở. Vua bèn ban cho tôi các điều đó, tùy theo tay nhân lành của Đức Chúa Trời tôi giúp đỡ tôi.
8และขอจดหมายถึงอาสาฟ ผู้ดูแลป่าของกษัตริย์ เพื่อให้เขาจัดไม้แก่ข้าพเจ้า สำหรับทำคานประตูป้อมข้างพระวิหาร ทำกำแพงเมือง และสร้างบ้านที่ข้าพเจ้าจะพักอาศัย” กษัตริย์ให้ตามที่ข้าพเจ้าขอ เพราะพระเจ้าของข้าพเจ้าช่วยเหลือข้าพเจ้าด้วยความกรุณา
9Vậy, tôi đến cùng các quan tổng trấn bên kia sông, vào trao cho họ những bức thơ của vua. Vả, vua có sai những quan tướng và quân kỵ đi với tôi.
9ข้าพเจ้าเดินทางไปถึงผู้ว่าราชการในดินแดนฟากแม่น้ำ และมอบจดหมายของกษัตริย์ให้พวกเขา กษัตริย์ยังส่งนายทหารและทหารม้าไปกับข้าพเจ้าด้วย
10Khi San-ba-lát, người Hô-rôn, và Tô-bi-gia, là kẻ tôi tớ Am-môn, hay điều đó, thì lấy làm bất bình vì có người đến đặng tìm kiếm sự hưng thạnh của dân Y-sơ-ra-ên.
10เมื่อสันบาลลัท ชาวโฮโรนาอิมกับโทบียาห์ ผู้รับใช้ชาวอัมโมน ได้ข่าวนี้ ทั้งสองไม่พอใจอย่างยิ่งที่มีคนมาแสวงหาความผาสุกให้ชาวอิสราเอล
11Vậy, tôi đến Giê-ru-sa-lem và ở tại đó ba ngày.
11ข้าพเจ้าไปถึงเยรูซาเล็มและอยู่ที่นั่นสามวัน
12Tôi và mấy người cùng theo tôi, bèn chổi dậy ban đêm; tôi chẳng cho ai hay biết sự gì Đức Chúa Trời đã khiến lòng tôi toan làm vì Giê-ru-sa-lem; lại ngoài con thú tôi cỡi thì chẳng có con thú nào khác ở với tôi.
12คืนหนึ่งข้าพเจ้าลุกขึ้นออกไปพร้อมกับชายไม่กี่คน โดยยังไม่ได้บอกใครถึงสิ่งที่พระเจ้าของข้าพเจ้าดลใจให้ทำเพื่อเยรูซาเล็ม ไม่มีสัตว์อื่นไปด้วย นอกจากสัตว์ที่ข้าพเจ้าขี่
13Ban đêm tôi ra nơi cửa Trũng, đối ngang suối chó rừng, và đến cửa phân, xem xét các vách thành của Giê-ru-sa-lem bị hư nát, và các cửa nó bị lửa thiêu đốt.
13คืนนั้นข้าพเจ้าออกทางประตูหุบเขา ไปทางบ่อน้ำหมาจิ้งจอก แล้วต่อไปยังประตูมูลสัตว์ ตรวจดูกำแพงเยรูซาเล็มที่พังลงและประตูเมืองที่ถูกไฟเผาจนหมด
14Đoạn, tôi đi qua cửa Giếng, và đến nơi ao của vua; song không có nơi nào đặng cho con thú tôi cỡi đi ngang qua được.
14จากนั้นไปยังประตูน้ำพุและสระของกษัตริย์ แต่ไม่มีทางให้สัตว์ที่ข้าพเจ้าขี่ผ่านไปได้
15Kế đó, ban đêm tôi bắt đường khe đi lên, xem xét vách thành; rồi tôi thối lại, vào nơi cửa Trũng mà trở về.
15ข้าพเจ้าจึงขึ้นไปตามลำธารในคืนนั้น ตรวจดูกำแพง แล้ววกกลับเข้าประตูหุบเขาและกลับมา
16Vả, các quan trưởng không hiểu tôi đi đâu, nào rõ tôi làm gì; và đến chừng ấy, tôi chưa tỏ ra cho người Giu-đa, hoặc cho những thầy tế lễ, hoặc cho kẻ quyền quí, hoặc cho quan trưởng, hay là cho các người khác lo làm công việc, được biết gì đến.
16บรรดาผู้ปกครองไม่รู้ว่าข้าพเจ้าไปไหน ทำอะไร ข้าพเจ้ายังไม่ได้บอกเรื่องนี้แก่ชาวยิว ปุโรหิต ชนชั้นสูง ผู้ปกครอง หรือคนอื่นที่ทำงานนี้
17Tôi bèn nói với chúng rằng: Các ngươi hãy xem tình cảnh khổ nạn của chúng ta đang đây; Giê-ru-sa-lem bị phá hoang, và các cửa nó bị lửa thiêu đốt. Hãy đến, xây cất các vách thành Giê-ru-sa-lem lại, hầu cho chúng ta chẳng còn bị sỉ nhục nữa.
17แล้วข้าพเจ้าพูดกับพวกเขาว่า “พวกคุณเห็นสภาพย่ำแย่ของเราแล้ว เยรูซาเล็มรกร้าง ประตูเมืองถูกไฟเผา มาเถอะ เรามาสร้างกำแพงเยรูซาเล็มขึ้นใหม่ จะได้ไม่ต้องอับอายอีก”
18Tôi cũng thuật cho chúng làm sao tay nhân từ của Đức Chúa Trời tôi đã giúp đỡ tôi, và các lời vua đã nói cùng tôi. Chúng nói: Hè, ta hãy chổi dậy và xây sửa lại! Vậy, chúng được vững chắc trong ý nhất định làm công việc tốt lành này.
18ข้าพเจ้าเล่าให้ฟังว่าพระเจ้าของข้าพเจ้าช่วยเหลือด้วยความกรุณาอย่างไร และกษัตริย์พูดกับข้าพเจ้าว่าอย่างไร พวกเขาตอบว่า “ลงมือสร้างกันเถอะ!” แล้วต่างก็เตรียมตัวอย่างแข็งขันเพื่อทำงานที่ดีนี้
19San-ba-lát, người Hô-rôn, Tô-bi-gia, kẻ tôi tớ Am-môn, và Ghê-sem, người A rạp, được hay việc đó, bèn nhạo báng và khinh bỉ chúng tôi. Chúng nó nói rằng: Các ngươi làm chi đó? Các ngươi có ý phản nghịch vua sao?
19แต่เมื่อสันบาลลัท ชาวโฮโรนาอิม โทบียาห์ ผู้รับใช้ชาวอัมโมน และเกเชม ชาวอาหรับได้ข่าว พวกเขาก็เยาะเย้ยดูหมิ่นเรา กล่าวว่า “พวกคุณกำลังทำอะไรกัน? จะกบฏต่อกษัตริย์หรือ?”
20Tôi bèn đáp với chúng nó rằng: Đức Chúa của các từng trời sẽ ban cho chúng ta sự hanh thông; vì vậy, chúng ta, là tôi tớ Ngài, sẽ chổi dậy và xây sửa lại; nhưng các ngươi không có phần, hoặc phép, hoặc kỷ niệm trong Giê-ru-sa-lem.
20ข้าพเจ้าตอบว่า “พระเจ้าแห่งสวรรค์จะให้เราประสบความสำเร็จ เราผู้เป็นผู้รับใช้ของพระองค์จะลงมือสร้าง ส่วนพวกคุณไม่มีส่วน ไม่มีสิทธิ์ และไม่มีสิ่งใดเป็นอนุสรณ์ของพวกคุณในเยรูซาเล็ม”
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.