Nê 9
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Kulish and Puluj Bible (1905)
1Ngày hai mươi bốn tháng ấy, dân Y-sơ-ra-ên nhóm lại, cữ ăn, mặc bao và phủ bụi đất.
1На двайцять четвертий день сього місяця зібрались усї сини Ізрайлеві, спощені й в дранках і з попілом на головах своїх.
2Dòng Y-sơ-ra-ên chia rẽ các người ngoại, đứng dậy xưng tội lỗi mình và sự gian ác của tổ phụ mình.
2І віддїлилось насїннє Ізрайлеве від усїх чужородцїв, і стали й сповідались із гріхів своїх і з проступків батьків своїх.
3Chúng đứng dậy tại chỗ mình, đọc trong sách luật pháp của Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, lâu đến phần tư ngày: trong một phần tư khác, chúng xưng tội và thờ lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ.
3І стояли на свойму місцї, і четвертину дня читали з книги закону Господа, Бога свого, а четвертину сповідались і молились Господеві, Богові свойму.
4Bấy giờ, Giê-sua, Ba-ni, Cát-mi-ên, Sê-ba-nia, Bun-ni, Sê-rê-bia, Ba-ni, và Kê-na-ni, đứng dậy tại trên sạp người Lê-vi, và kêu cầu lớn tiếng cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình.
4І стали на підвисшеному місцї левітів: Ісус, Банїя, Кадмиїл, Шеванїя, Вуннїй, Шеревія, Банїя, Хананї й покликали голосно до Господа, Бога свого.
5Khi ấy những người Lê-vi, là Giê-sua, Cát-mi-ên, Ba-ni, Ha-sáp-nia, Sê-rê-bia, Hô-đia, Sê-ba-nia, và Phê-ta-hia nói rằng: Hãy đứng dậy, ngợi khen Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi, là Đấng hằng có đời đời kiếp kiếp! Đáng ngợi khen danh vinh hiển của Ngài, vẫn trổi cao hơn các sự chúc tụng và các lời khen ngợi.
5І сказали левіти — Ісус, Кадмиїл, Банїя, Хашавнїя, Шеревія, Годїя, Шеванїя, Петахія: Встаньте, славіте Господа, Бога вашого від віку й до віку. Нехай славлять імя твоє, достойне всякої слави й висше над усяку прославу й похвалу.
6Oâi! chỉ một mình Chúa là Đức Giê-hô-va có một không hai; Chúa đã dựng nên các từng trời, và trời của các từng trời, cùng toàn cơ binh của nó, trái đất và các vật ở trên nó, biển và muôn vật ở dưới nó Chúa bảo tồn những vật ấy, và cơ binh của các từng trời đều thờ lạy Chúa.
6(І промовив Ездра:) Ти, Господи, єдиний, Ти сотворив небо, небеса небес і все військо їх, землю і все, що на нїй, моря і все, що в їх, і ти живиш усе й небесне військо тобі кланяється.
7Chúa ôi! Chúa là Giê-hô-va Đức Chúa Trời mà đã chọn Aùp-ram, đem người ra khỏi U-rơ của dân Canh-đê, và ban cho người tên Aùp-ra-ham.
7Ти сам, Господи Боже, вибрав Аврама й вивів його з Ура Халдейського, й дав йому ймя Авраама,
8Chúa thấy lòng người trung thành tại trước mặt Chúa, và Chúa lập giao ước với người, đặng ban cho dòng dõi người xứ của dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Phê-rê-sít, dân Giê-bu-sít, và dân Ghi-rê-ga-sít; Chúa có làm ứng nghiệm lời của Chúa, vì Chúa là công bình.
8І знайшов його серце вірним перед тобою, й постановив із ним завіт, щоб дати (йому й) насїнню його землю Канаанїїв, Геттїїв, Аморіїв, Ферезіїв, Евузіїв і Гергезіїв. І додержав єси слова свого, бо ти праведний.
9Chúa có thấy sự khốn khổ của tổ phụ chúng tôi tại Ê-díp-tô, có nghe tiếng kêu la của chúng tại bên Biển đỏ,
9Ти побачив нужду батьків наших в Египтї й почув поклик їх коло Червоного моря.
10làm những dấu kỳ phép lạ nơi Pha-ra-ôn, nơi đầy tớ người và nơi toàn dân sự của nước người; vì Chúa biết rằng họ có đối đãi tổ phụ chúng tôi cách kiêu căng, và Chúa có làm nổi danh Chúa như thể ngày nay.
10І показав знамення й чуда над Фараоном і над усїми слугами його, й над усїм народом землї його, ти бо знав, які вони були горді проти їх, і вчинив єси собі ймя до сього дня.
11Chúa có phân rẽ biển trước mặt chúng nó, để chúng nó đi ngang qua giữa biển trên đất khô; còn những kẻ đuổi theo, Chúa bèn ném họ dưới vực sâu, như ném đá trong nước lớn.
11Ти роздїлив перед ними море, і вони пройшли серединою моря по суші, а тих, що гнались за ними, ти покинув у глибінь, наче камінь у розгукані води.
12Ban ngày, Chúa dẫn dắt chúng bằng một trụ mây, và ban đêm bằng một trụ lửa, để chiếu sáng cho chúng trong con đường phải đi theo.
12Стовпом хмаряним вів ти їх в день а стовпом огняним вночі, щоб осьвічувати їм дорогу, якою їм ійти.
13Chúa cũng giáng lâm tại trên núi Si-na-i, phán với chúng từ trên trời, ban cho chúng những luật lệ ngay thẳng, pháp độ chân thật, và những qui tắc cùng điều răn tốt lành.
13І зійшов ти на Синай-гору й говорив до їх із неба, й дав їм суди справедливі, закони певні, постанови й заповідї добрі.
14Chúa khiến cho chúng biết ngày sa-bát thánh của Chúa, cậy Môi-se, tôi tớ của Chúa, truyền cho chúng những điều răn, qui tắc, và luật pháp.
14І вказав єси їм сьвяту твою суботу, й передав їм заповідї й постанови й закон через слугу твого Мойсея.
15Từ các từng trời, Chúa ban cho chúng bánh đặng ăn đói, khiến hòn đá chảy ra nước cho chúng uống khát, phán biểu chúng vào nhận lấy xứ mà Chúa đã thề ban cho chúng.
15І хлїб із неба давав ти їм в голодї їх, і воду з каменя добував їм у спразї їх, і сказав їм, щоб ійшли і зайняли землю, що її дати їм ти заклявся, піднявши руку твою.
16Nhưng tổ phụ chúng tôi cư xử cách kiêu hãnh cứng cổ mình, không nghe các điều răn của Chúa,
16Але вони й отцї наші були упрямі, й держали туго шиї свої й не слухали заповідей твоїх;
17chẳng khứng vâng theo và không nhớ đến các phép lạ mà Chúa đã làm giữa chúng; nhưng chúng cứng cổ mình, và trong sự bội nghịch mình cắt một kẻ làm đầu đặng trở về nơi nô lệ của họ. Nhưng Chúa vốn một Đức Chúa Trời sẵn tha thứ, hay làm ơn, và thương xót, chậm nóng giận, và dư đầy nhân từ, Chúa không có lìa bỏ chúng.
17Не хотїли коритись і не згадали про чуда твої, які ти чинив із ними, й держали туго шию свою, та в упрямості своїй настановили собі провідників, щоб вернутись в неволю свою. Але ти єси Бог, що любиш прощати, добрий і милосердний, довготерпіливий й велико милостивий, й не покинув єси їх
18Dẫu khi chúng làm một con bò con đực, mà rằng: Nầy là thần đã dẫn các ngươi lên khỏi Ê-díp-tô, và chọc cho Chúa giận nhiều,
18І хоч вони зробили собі вилите теля й сказали: Оце бог твій, що вивів тебе з Египту, і хоч вони завдавали велику зневагу,
19thì Chúa vì sự thương xót của Chúa, không lìa bỏ chúng trong đồng vắng; trụ mây dẫn đường ban ngày, không lìa khỏi trên chúng, hoặc trụ lửa lúc ban đêm chiếu sáng và chỉ cho chúng con đường chúng phải đi.
19То ти в великому свойму милосердю не покидав їх в пустинї; стовп хмаряний не відходив від їх в день, щоб вести їх дорогою, а стовп огняний вночі, щоб присьвічувати їм на дорозї, якою б їм ійти.
20Chúa cũng ban cho chúng Thần linh lương thiện của Chúa, để dạy dỗ cho chúng, không từ chối cho miệng chúng ăn ma-na, và ban cho chúng nước đặng uống khát.
20І дав єси їм Духа твого доброго, щоб на путь їх наводив, і манни твоєї не віднимав від уст їх, та й воду давав їм, щоб гасили смагу.
21Phải, Chúa nuôi dưỡng chúng bốn mươi năm trong đồng vắng: chúng chẳng thiếu thốn chi cả; quần áo chúng không cũ rách, và chân chúng chẳng phù lên.
21Сорок років харчував ти їх у пустинї; вони нї в чому не мали недостачі, одежа їх не ставала стара, й ноги їх не пухли.
22Vả lại, Chúa ban cho chúng những nước và dân tộc, và phân phát nước ấy cho chúng; chúng nhận được nước của Si-hôn, tức nước của vua Hết-bôn, và nước của Oùc, vua Ba-san.
22І передав ти їм царства й народи й подїлив їх (ними), й забрали вони землю Сигона, й землю царя Гесбонського, й землю Ога, царя Басанського.
23Chúa cũng thêm nhiều con cháu chúng đông như sao trên trời, đưa chúng vào xứ mà Chúa đã phán cùng tổ phụ chúng rằng chúng sẽ vào đó đặng nhận lấy xứ ấy.
23І розмножив ти синів їх, неначе зорі на небі, й увів їх у землю, про яку ти говорив батькам їх, що вони прийдуть її посїсти.
24Vậy, con cháu chúng bèn vào và nhận lấy xứ, và Chúa bắt phục trước mặt họ các dân của xứ, là dân Ca-na-an, phó dân ấy và những vua chúng nó cùng các dân tộc của xứ vào tay họ, đặng họ đãi các dân ấy theo ý mình muốn.
24І ввійшли сини їх і посїли землю. І ти покорив їм осадників землї Канаанїїв і віддав їх в руки їм, і царів їх, і народи землї, щоб вони робили з ними, що хотїли.
25Họ chiếm lấy những thành bền vững, và ruộng đất mầu mỡ, được những nhà đầy các vật tốt lành, nhưng giếng đào, vườn nho, vườn ô-li-ve, và cây trái rất nhiều; chúng ăn, bèn được no nê, và mập béo, vui lòng trong sự nhân từ lớn lao của Chúa.
25І зайняли вони утверджені міста й родючу землю, й забрали доми, повні всякого добра, криницї висїчені (в каменї), виноградники й сади маслинні і силу дерева (з овощами) на їжу. Вони їли, насичувались, ставали гладкі й жили в гараздї, по великій добротї твоїй.
26Dầu vậy, chúng chẳng vâng theo, bèn phản nghịch với Chúa, ném bỏ luật pháp Chúa sau lưng, giết các đấng tiên tri của Chúa, là người làm chứng nghịch cùng họ đặng đem họ trở lại cùng Chúa; song chúng lại chọc giận Chúa nhiều thay.
26Та стали вони неслухняні й зворохобились проти тебе, й знехтували законом твоїм; убивали пророків твоїх, що вговорювали їх обернутись до тебе, й завдавали велику зневагу.
27Vì vậy, Chúa phó họ vào tay cừu địch của họ; chúng nó hà hiếp họ. Trong thời hoạn nạn chúng kêu cầu cùng Chúa, thì từ các từng trời Chúa có nghe đến; theo lòng nhân từ lớn lao của Chúa, Chúa bèn ban cho những đấng giải cứu để cứu chúng khỏi tay kẻ cừu địch mình.
27І Ти віддав їх у руки ворогів їх, що гнобили їх. Та коли вони в лиху годину покликали до тебе, ти вислухував їх із небес, і по великому змилуваннї твойму посилав їм визволителїв, і вони визволяли їх із рук ворогів їх.
28Nhưng khi chúng được an tịnh, bèn khởi làm lại điều ác trước mặt Chúa; vì vậy, Chúa bỏ chúng vào tay kẻ thù nghịch để quản hạt chúng; song khi chúng trở lại, kêu cầu cùng Chúa, thì Chúa từ trên trời nghe đến, và vì lòng thương xót Chúa, nên giải cứu chúng nhiều lần.
28Коли ж в їх був спокій, то знов починали чинити зло перед лицем твоїм, і ти віддавав їх в руки ворогів їх, а вони панували над ними. Але як вони знов покликали до тебе, то ти вислухував їх із небес і по великому змилуваннї твойму, визволював їх багато разів.
29Chúa cũng làm chứng nghịch cùng chúng, để dẫn dắt chúng trở lại luật pháp của Ngài. Dầu vậy, chúng cư xử cách kiêu ngạo không nghe các điều răn Chúa, phạm đến luật lệ của Chúa, là luật lệ nếu người nào vâng làm theo, tất sẽ được sống; chúng ở chấp nhất, cứng cổ mình, và không khứng nghe theo.
29Ти пригадував їм, щоб обернулись до закону твого, але вони були уперті, і не слухали заповідей твоїх і відхилялись від постанов твоїх, зза яких би жив чоловік, наколи б виконував їх, і чинили спину свою твердою, й шию свою тугою та й не слухали.
30Chúa dung thứ chúng nhiều năm và cậy Thần linh và các tiên tri của Chúa mà làm chứng nghịch cùng chúng; nhưng chúng không lắng tai nghe, nên Chúa phó chúng vào tay dân tộc của các xứ.
30Дожидаючи їх навернення, проволїкав багато років і впоминав їх Духом твоїм через твоїх пророків, та вони не слухали їх. І ти віддав їх в руки чужоземнїх народів.
31Song, vì lòng thương xót lớn lao của Chúa, Chúa không có tận diệt chúng, cũng không lìa bỏ chúng; vì Chúa vốn là Đức Chúa Trời hay thương xót và nhân từ.
31Але ти в великому милосердю твойму не вигубив їх цїлком, і не покинув їх, ти бо Бог добрий і милостивий.
32Vậy bây giờ, hỡi Đức Chúa Trời của chúng tôi ơi! là Đức Chúa Trời rất lớn rất quyền năng và đáng sợ, hằng giữ giao ước và sự nhân từ, xin chớ coi nhỏ mọn trước mặt Chúa các việc đau đớn cực nhọc đã giáng trên chúng tôi, trên các vua và các quan trưởng, trên những thầy tế lễ và các tiên tri, trên tổ phụ chúng tôi, và trên hết thảy dân sự của Chúa, từ đời các vua A-si-ri cho đến ngày nay.
32А й тепер, Боже наш, Боже великий, пресильний і страшний, додержучий завіт і милость! не маловаж у себе всї страждання, які спадали на нас, царів наших, князїв наших, сьвященників наших, пророків наших, батьків наших, і ввесь народ твій від часів царів Ассирийських по сей день.
33Trong mọi việc đã xảy đến cho chúng tôi, Chúa vẫn là công bình; vì Chúa thi hành cách chân thật, còn chúng tôi lại làm cách hung ác.
33Ти справедливий в усьому, що впало на нас, бо ти чинив по правдї, а ми винуваті.
34Các vua chúng tôi, các quan trưởng, những thầy tế lễ, và tổ phụ chúng tôi, không có gìn giữ luật pháp của Chúa, cũng chẳng nghe theo các điều răn và chứng cớ mà Chúa phán dạy nghịch cùng chúng.
34Царі наші, князї наші, сьвященники наші і отцї наші не держали закон твій, й не вважали на заповідї твої та впоминання твої, якими ти напоминав їх.
35Tại trong xứ của chúng, giữa điều ơn lành dư dật mà Chúa đã ban cho chúng, tại trong đất rộng rãi và màu mỡ mà Chúa đã đặt trước mặt chúng, chúng không phục sự Chúa, chẳng trở bỏ các công việc ác của họ.
35І в державі своїй, в великому добрі від тебе, яке ти давав їм, і в просторій та плодючій землї, що нею надїлив єси їх, вони не служили тобі і не відвертались від своїх лихих учинків.
36Kìa, ngày nay chúng tôi làm tôi mọi; này chúng tôi làm tôi trong xứ mà Chúa đã ban cho tổ phụ chúng tôi để ăn bông trái và thổ sản tốt tươi của nó.
36І от ми тепер невольниками; на тій землї, що ти дав батькам нашим, щоб живитись плодами її та добром її, ось ми наймитами.
37Xứ sanh ra nhiều thổ sản cho các vua mà Chúa đã lập trên chúng tôi tại cớ tội lỗi của chúng tôi: các vua ấy cũng tự ý mình lấn lướt trên thân thể chúng tôi và các súc vật của chúng tôi, và chúng tôi đang bị hoạn nạn lớn.
37І вроджай свій множить вона в користь царям, яким ти покорив нас за гріхи наші. А вони панують над тїлами нашими й над товаром нашим по своїй волї, й ми в великій нуждї.
38Dầu các sự này, chúng tôi lập giao ước chắc chắn, và chúng tôi ghi chép nó các quan trưởng, người Lê-vi, và những thầy tế lễ của chúng tôi đóng ấn cho.
38По всьому тому ми складаємо тверду обіцянку й підписуємо, й на підписові печать князїв наших, левітів наших і сьвященників наших.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.