Lu 2
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Daničić–Karadžić Bible (1868), Cyrillic
1Lúc ấy, Sê-sa Au-gút-tơ ra chiếu chỉ phải lập sổ dân trong cả thiên hạ.
1У то време пак изиђе заповест од ћесара Августа да се препише сав свет.
2Việc lập sổ dân nầy là trước hết, và nhằm khi Qui-ri-ni-u làm quan tổng đốc xứ Sy-ri.
2Ово је био први препис за владања Киринова Сиријом.
3Ai nấy đều đến thành mình khai tên vào sổ.
3И пођоше сви да се препишу, сваки у свој град.
4Vì Giô-sép là dòng dõi nhà Đa-vít, cho nên cũng từ thành Na-xa-rét, xứ Ga- li-lê, lên thành Đa-vít, gọi là Bết-lê-hem, xứ Giu-đê,
4Тада пође и Јосиф из Галилеје, из града Назарета у Јудеју у град Давидов који се зваше Витлејем, јер он беше из дома и племена Давидовог,
5để khai vào sổ tên mình và tên Ma-ri, là người đã hứa gả cho mình đang có thai.
5да се препише с Маријом, испрошеном за њега женом, која беше трудна.
6Đang khi hai người ở nơi đó, thì ngày sanh đẻ của Ma-ri đã đến.
6И кад онамо беху, дође време да она роди.
7Người sanh con trai đầu lòng, lấy khăn bọc con mình, đặt nằm trong máng cỏ, vì nhà quán không có đủ chỗ ở.
7И роди Сина свог првенца, и пови Га, и метну Га у јасле; јер им не беше места у гостионици.
8Vả, cũng trong miền đó, có mấy kẻ chăn chiên trú ngoài đồng, thức đêm canh giữ bầy chiên.
8И беху пастири у оном крају који чуваху ноћну стажу код стада свог.
9Một thiên sứ của Chúa đến gần họ, và sự vinh hiển của Chúa chói lòa xung quanh, họ rất sợ hãi.
9И гле, анђео Господњи стаде међу њима, и слава Господња обасја их; и уплашише се врло.
10Thiên sứ bèn phán rằng: Đừng sợ chi; vì nầy, ta báo cho các ngươi một Tin Lành, sẽ làm một sự vui mừng lớn cho muôn dân;
10И рече им анђео: Не бојте се; јер гле, јављам вам велику радост која ће бити свему народу.
11ấy là hôm nay tại thành Đa-vít đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu thế, là Christ, là Chúa.
11Јер вам се данас роди спас, који је Христос Господ, у граду Давидовом.
12Nầy là dấu cho các ngươi nhìn nhận Ngài: Các ngươi sẽ gặp một con trẻ bọc bằng khăn, nằm trong máng cỏ.
12И ето вам знака: Наћи ћете дете повито где лежи у јаслама.
13Bỗng chúc có muôn vàn thiên binh với thiên sứ đó ngợi khen Đức Chúa Trời rằng:
13И уједанпут постаде с анђелом мноштво војника небеских, који хваљаху Бога говорећи:
14Sáng danh Chúa trên các từng trời rất cao, Bình an dưới đất, ân trạch cho loài người!
14Слава на висини Богу, и на земљи мир, међу људима добра воља.
15Sau khi các thiên sứ lìa họ lên trời rồi, bọn chăn nói với nhau rằng: Chúng ta hãy tới thành Bết-lê-hem, xem việc đã xảy đến mà Chúa cho chúng ta hay.
15И кад анђели отидоше од њих на небо, пастири говораху један другом: Хајдемо до Витлејема, да видимо то што се тамо догодило шта нам каза Господ.
16Vậy, họ vội vàng đi đến đó, thấy Ma-ri, Giô-sép, và thấy con trẻ đang nằm trong máng cỏ.
16И дођоше брзо, и нађоше Марију и Јосифа и дете где лежи у јаслама.
17Đã thấy vậy, họ bèn thuật lại những lời thiên sứ nói về con trẻ đó.
17А кад видеше, казаше све што им је казано за то дете.
18Ai nấy nghe chuyện bọn chăn chiên nói, đều lấy làm lạ.
18И сви који чуше дивише се томе што им казаше пастири.
19Còn Ma-ri thì ghi nhớ mọi lời ấy và suy nghĩ trong lòng.
19А Марија чуваше све речи ове и слагаше их у срцу свом.
20Bọn chăn chiên trở về, làm sáng danh và ngợi khen Đức Chúa Trời về mọi điều mình đã nghe và thấy y như lời đã bảo trước cùng mình.
20И вратише се пастири славећи и хвалећи Бога за све што чуше и видеше, као што им би казано.
21Đến ngày thứ tám, là ngày phải làm phép cắt bì cho con trẻ, thì họ đặt tên là Jêsus, là tên thiên sứ đã đặt cho, trước khi chịu cưu mang trong lòng mẹ.
21И кад се наврши осам дана да Га обрежу, наденуше Му име Исус, као што је анђео рекао док се још није био ни заметнуо у утроби.
22Khi đã hết những ngày tinh sạch rồi, theo luật pháp Môi-se, Giô-sép và Ma-ri đem con trẻ lên thành Giê-ru-sa-lem để dâng cho Chúa,
22И кад дође време да иду на молитву по закону Мојсијевом, донеше Га у Јерусалим да Га метну пред Господа,
23như đã chép trong luật pháp Chúa rằng: Hễ con trai đầu lòng, phải dâng cho Chúa,
23(као што је написано у закону Господњем: Да се свако дете мушко које најпре отвори материцу посвети Господу;)
24lại dâng một cặp chim cu, hoặc chim bò câu con, như luật pháp Chúa đã truyền.
24и да принесу прилог, као што је речено у закону Господњем, две грлице, или два голубића.
25Vả, trong thành Giê-ru-sa-lem có một người công bình đạo đức, tên là Si- mê-ôn, trông đợi sự yên ủi dân Y-sơ-ra-ên, và Đức Thánh Linh ngự trên người.
25И гле, беше у Јерусалиму човек по имену Симеун, и тај човек беше праведан и побожан, који чекаше утехе Израиљеве, и Дух Свети беше у њему.
26Đức Thánh Linh đã bảo trước cho người biết mình sẽ không chết trước khi thấy Đấng Christ của Chúa.
26И њему беше Свети Дух казао да неће видети смрт док не види Христа Господњег.
27Vậy người cảm bởi Đức Thánh Linh vào đền thờ, lúc có cha mẹ đem con trẻ là Jêsus đến, để làm trọn cho Ngài các thường lệ mà luật pháp đã định,
27И каза му Дух те дође у цркву; и кад донесоше родитељи дете Исуса да сврше за Њега закон по обичају,
28thì người bồng ẵm con trẻ, mà ngợi khen Đức Chúa Trời rằng:
28и он Га узе на руке своје, и хвали Бога и рече:
29Lạy Chúa, bây giờ xin Chúa cho tôi tớ Chúa được qua đời bình an, theo như lời Ngài;
29Сад отпушташ с миром слугу свог, Господе, по речи својој;
30Vì con mắt tôi đã thấy sự cứu vớt của Ngài,
30Јер видеше очи моје спасење Твоје,
31Mà Ngài đã sắm sửa đặng làm ánh sáng trước mặt muôn dân,
31Које си уготовио пред лицем свих народа,
32Soi khắp thiên hạ, Và làm vinh hiển cho dân Y-sơ-ra-ên là dân Ngài.
32Видело, да обасја незнабошце, и славу народа Твог Израиља.
33Cha mẹ con trẻ lấy làm lạ về mấy lời người ta nói về con.
33И Јосиф и мати Његова чуђаху се томе што се говораше за Њега.
34Si-mê-ôn bèn chúc phước cho hai vợ chồng, nói với Ma-ri, mẹ con trẻ rằng: Đây, con trẻ nầy đã định làm một cớ cho nhiều người trong Y-sơ-ra-ên vấp ngã hoặc dấy lên, và định làm một dấu gây nên sự cãi trả;
34И благослови их Симеун, и рече Марији, матери Његовој: Гле, Овај лежи да многе обори и подигне у Израиљу, и да буде знак против кога ће се говорити
35còn phần ngươi, có một thanh gươm sẽ đâm thấu qua lòng ngươi. Aáy vậy tư tưởng trong lòng nhiều người sẽ được bày tỏ.
35(а и теби самој пробошће нож душу), да се открију мисли многих срца.
36Lại có bà tiên tri An-ne, con gái của Pha-nu-ên, về chi phái A-se, đã cao tuổi lắm. Từ lúc còn đồng trinh đã ở với chồng được bảy năm;
36И беше Ана пророчица, кћи Фануилова, од колена Асировог; она је остарела, а седам је година живела с мужем од девојаштва свог,
37rồi thì ở góa. Bấy giờ đã tám mươi bốn tuổi, chẳng hề ra khỏi đền thờ, cứ đêm ngày hầu việc Đức Chúa Trời, kiêng ăn và cầu nguyện.
37и удова око осамдесет и четири године, која не одлажаше од цркве, и служаше Богу дан и ноћ постом и молитвама.
38Một lúc ấy, người cũng thình lình đến đó, ngợi khen Đức Chúa Trời, và nói chuyện về con trẻ với mọi người trông đợi sự giải cứu của thành Giê-ru-sa-lem.
38И она у тај час дође, и хваљаше Господа и говораше за Њега свима који чекаху спасења у Јерусалиму.
39Khi Giô-sép và Ma-ri đã làm trọn mọi việc theo luật pháp Chúa rồi, thì trở về thành của mình là Na-xa-rét trong xứ Ga-li-lê.
39И кад свршише све по закону Господњем, вратише се у Галилеју у град свој Назарет.
40Con trẻ lớn lên, và mạnh mẽ, được đầy dẫy sự khôn ngoan, và ơn Đức Chúa Trời ngự trên Ngài.
40А дете растијаше и јачаше у духу, и пуњаше се премудрости, и благодат Божија беше на Њему.
41Vả, hằng năm đến ngày lễ Vượt qua, cha mẹ Đức Chúa Jêsus thường đến thành Giê-ru-sa-lem.
41И родитељи Његови иђаху сваке године у Јерусалим о празнику пасхе.
42Khi Ngài lên mười hai tuổi, theo lệ thường ngày lễ, cùng lên thành Giê- ru-sa-lem.
42И кад Му би дванаест година, дођоше они у Јерусалим по обичају празника;
43Các ngày lễ qua rồi, cha mẹ trở về, con trẻ là Jêsus ở lại thành Giê-ru-sa-lem, mà cha mẹ không hay chi hết.
43и кад дане проведоше и они се вратише, оста дете Исус у Јерусалиму; и не знаде Јосиф и мати Његова;
44Hai người tưởng rằng Ngài cũng đồng đi với bạn đi đường, đi trót một ngày, rồi mới tìm hỏi trong đám bà con quen biết;
44него мислећи да је с друштвом, отидоше дан хода, и стадоше Га тражити по родбини и по знанцима.
45nhưng không thấy Ngài, bèn trở lại thành Giê-ru-sa-lem mà tìm.
45И не нашавши Га вратише се у Јерусалим да Га траже.
46Khỏi ba ngày, gặp Ngài tại trong đền thờ đang ngồi giữa mấy thầy thông thái, vừa nghe vừa hỏi.
46И после три дана нађоше Га у цркви где седи међу учитељима, и слуша их, и пита их,
47Ai nấy nghe, đều lạ khen về sự khôn ngoan và lời đối đáp của Ngài.
47и сви који Га слушаху дивљаху се Његовом разуму и одговорима.
48Khi cha mẹ thấy Ngài, thì lấy làm lạ, và mẹ hỏi rằng: Hỡi con, sao con làm cho hai ta thể nầy? Nầy, cha và mẹ đã khó nhọc lắm mà tìm con.
48И видевши Га зачудише се, и мати Његова рече Му: Сине! Шта учини нама тако? Ево отац твој и ја са страхом тражисмо те.
49Ngài thưa rằng: Cha mẹ kiếm tôi làm chi? Há chẳng biết tôi phải lo việc Cha tôi sao?
49И рече им: Зашто сте ме тражили? Зар не знате да мени треба у оном бити што је Оца мог?
50Nhưng hai người không hiểu lời Ngài nói chi hết.
50И они не разумеше речи што им рече.
51Đoạn, Ngài theo về thành Na-xa-rét và chịu lụy cha mẹ. Mẹ Ngài ghi các lời ấy vào lòng.
51И сиђе с њима и дође у Назарет; и беше им послушан. И мати Његова чуваше све речи ове у срцу свом.
52Đức Chúa Jêsus khôn ngoan càng thêm, thân hình càng lớn, càng được đẹp lòng Đức Chúa Trời và người ta.
52И Исус напредоваше у премудрости и у расту и у милости код Бога и код људи.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.