Lu 24
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Daničić–Karadžić Bible (1868), Cyrillic
1Ngày thứ nhất trong tuần lễ, khi mờ sáng, các người đàn bà ấy lấy thuốc thơm đã sửa soạn đem đến mồ Ngài.
1А у први дан недељни дођоше врло рано на гроб, и донесоше мирисе што приправише, и неке друге жене с њима;
2Họ thấy hòn đá đã lăn ra khỏi cửa mồ;
2али нађоше камен одваљен од гроба.
3nhưng bước vào, không thấy xác Đức Chúa Jêsus.
3И ушавши не нађоше тело Господа Исуса.
4Đang khi không biết nghĩ làm sao, xảy có hai người nam mặt áo sáng như chớp, hiện ra trước mặt họ.
4И кад се оне чуђаху томе, гле, два човека сташе пред њима у сјајним хаљинама;
5Họ đang thất kinh, úp mặt xuống đất; thì hai người ấy nói rằng: Sao các ngươi tìm người sống trong vòng kẻ chết?
5а кад се оне уплашише и оборише лица к земљи, рекоше им: Што тражите Живога међу мртвима?
6Ngài không ở đây đâu, song Ngài đã sống lại. Hãy nhớ khi Ngài còn ở xứ Ga-li-lê, phán cùng các ngươi thể nào,
6Није овде; него устаде; опомените се како вам каза кад беше још у Галилеји,
7Ngài đã phán rằng: Con người phải bị nộp trong tay kẻ có tội, phải bị đóng đinh trên cây thập tự, và ngày thứ ba phải sống lại.
7говорећи да Син човечији треба да се преда у руке људи грешника и да се разапне и трећи дан да устане.
8Họ bèn nhớ lại những lời Đức Chúa Jêsus đã phán.
8И опоменуше се речи Његових.
9Họ ở mồ trở về, rao truyền mọi sự ấy cho mười một sứ đồ và những người khác.
9И вративши се од гроба јавише све ово једанаесторици и свима осталим.
10Aáy là Ma-ri Ma-đơ-len, Gian-nơ, và Ma-ri mẹ của Gia-cơ, cùng các đàn bà khác đi với họ đã rao truyền như vậy cho các sứ đồ.
10А то беше Магдалина Марија и Јована и Марија Јаковљева и остале с њима које казаше ово апостолима.
11Song các sứ đồ không tin, cho lời ấy như là hư không.
11И њима се учинише њихове речи као лаж, и не вероваше им.
12Dầu vậy, Phi-e-rơ đứng dậy, chạy đến mồ, cúi xuống mà dòm, chỉ thấy vải liệm ở trên đất, đoạn về nhà, lạ lùng cho việc đã xảy ra.
12А Петар уставши отрча ка гробу, и наткучивши се виде саме хаљине где леже, и отиде чудећи се у себи шта би.
13Cũng trong ngày ấy, có hai môn đồ đi đến làng kia, gọi là Em-ma-út, cách thành Giê-ru-sa-lem sáu mươi ếch-ta-đơ;
13И гле, двојица од њих иђаху у онај дан у село које беше далеко од Јерусалима шездесет потркалишта и зваше се Емаус.
14họ đàm luận về những sự đã xảy ra.
14А они говораху међу собом о свима овим догађајима.
15Đang khi nói và cãi lẽ nhau, chính Đức Chúa Jêsus đến gần cùng đi đường với họ.
15И кад се они разговараху и запиткиваху један другог, и Исус приближи се, и иђаше с њима.
16nhưng mắt hai người ấy bị che khuất không nhìn biết Ngài được.
16А очи им се држаху да Га не познаше.
17Ngài phán cùng họ rằng: Các ngươi đang đi đường, nói chuyện gì cùng nhau vậy? Họ dừng lại, buồn bực lắm.
17А Он им рече: Какав је то разговор који имате међу собом идући, и што сте невесели?
18Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-ba, trả lời rằng: Có phải chỉ ngươi là khách lạ ở thành Giê-ru-sa-lem, không hay việc đã xảy đến tại đó cách mấy bữa rày sao?
18А један, по имену Клеопа, одговарајући рече Му: Зар си ти један од црквара у Јерусалиму који ниси чуо шта је у њему било ових дана?
19Ngài hỏi rằng: Việc gì vậy? Họ trả lời rằng: Aáy là việc đã xảy ra cho Jêsus Na-xa-rét, một đấng tiên tri, có quyền phép trong việc làm và trong lời nói, trước mặt Đức Chúa Trời và cả chúng dân;
19И рече им: Шта? А они Му рекоше: За Исуса Назарећанина, који беше пророк, силан у делу и у речи пред Богом и пред свим народом;
20làm sao mà các thầy tế lễ cả cùng các quan đề hình ta đã nộp Ngài để xử tử, và đã đóng đinh trên cây thập tự.
20како Га предадоше главари свештенички и кнезови наши те се осуди на смрт, и разапеше Га?
21Chúng tôi trông mong Ngài sẽ cứu lấy dân Y-sơ-ra-ên; dầu thể ấy, việc xảy ra đã được ba ngày rồi.
21А ми се надасмо да је Он Онај који ће избавити Израиља; али сврх свега тога ово је данас трећи дан како то би.
22Thật có mấy người đàn bà trong vòng chúng tôi đã làm cho chúng tôi lấy làm lạ lắm: khi mờ sáng, họ đến mồ,
22А уплашише нас и жене неке од наших које су биле рано на гробу,
23không thấy xác Ngài, thì về báo rằng có thiên sứ hiện đến, nói Ngài đang sống.
23и не нашавши тела његовог дођоше говорећи да су им се анђели јавили који су казали да је Он жив.
24Có mấy người trong vòng chúng tôi cũng đi thăm mồ, thấy mọi điều y như lời họ nói; còn Ngài thì không thấy.
24И идоше једни од наших на гроб, и нађоше тако као што и жене казаше, али Њега не видеше.
25Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Hỡi những kẻ dại dột, có lòng chậm tin lời các đấng tiên tri nói!
25И Он им рече: О безумни и спорог срца за веровање свега што говорише пророци!
26Há chẳng phải Đấng Christ chịu thương khó thể ấy, mới được vào sự vinh hiển mình sao?
26Није ли то требало да Христос претрпи и да уђе у славу своју?
27Đoạn, Ngài bắt đầu từ Môi-se rồi kế đến mọi đấng tiên tri mà cắt nghĩa cho hai người đó những lời chỉ về Ngài trong cả Kinh Thánh.
27И почевши од Мојсија и од свих пророка казиваше им шта је за Њега у свему писму.
28Khi hai người đi gần đến làng mình định đi, thì Đức Chúa Jêsus dường như muốn đi xa hơn nữa.
28И приближише се к селу у које иђаху, и Он чињаше се да хоће даље да иде.
29Nhưng họ ép Ngài dừng lại, mà thưa rằng: Xin ở lại với chúng tôi; vì trời đã xế chiều hầu tối. Vậy, Ngài vào ở lại cùng họ.
29И они Га устављаху говорећи: Остани с нама, јер је дан нагао, и близу је ноћ. И уђе с њима да ноћи.
30Đang khi Ngài ngồi ăn cùng hai người, thì lấy bánh, chúc tạ, đoạn, bẻ ra cho họ.
30И кад сеђаше с њима за трпезом, узе хлеб и благословивши преломи га и даде им.
31Mắt họ bèn mở ra, mà nhìn biết Ngài; song Ngài thoạt biến đi không thấy.
31Тада се њима отворише очи и познаше Га. И Њега нестаде.
32hai người nói cùng nhau rằng: Khi nãy đi đường, Ngài nói cùng chúng ta và cắt nghĩa Kinh Thánh, lòng chúng ta há chẳng nóng nảy sao?
32И они говораху један другом: Не гораше ли наше срце у нама кад нам говораше путем и кад нам казиваше писмо?
33Nội giờ đó, họ liền đứng dậy, trở về thành Giê-ru-sa-lem, gặp mười một sứ đồ cùng các môn đồ khác đang nhóm lại,
33И уставши онај час, вратише се у Јерусалим, и нађоше у скупу једанаесторицу и који беху с њима,
34nói với họ rằng: Chúa thật đã sống lại, và hiện ra với Si-môn.
34који говораху: Заиста устаде Господ, и јави се Симону.
35Rồi hai người thuật lại sự đã xảy đến khi đi đường, và nhìn biết Ngài lúc bẻ bánh ra là thể nào.
35И они казаше шта би на путу, и како Га познаше кад преломи хлеб.
36Môn đồ đang nói chuyện như vậy, chính Đức Chúa Jêsus hiện ra giữa đó mà phán rằng: Bình an cho các ngươi!
36А кад они ово говораху, и сам Исус стаде међу њима, и рече им: Мир вам.
37Nhưng môn đồ đều sửng sốt rụng rời, tưởng thấy thần.
37А они се уплашише, и поплашени будући, мишљаху да виде духа.
38Ngài phán rằng: Sao các ngươi bối rối, và sao trong lòng các ngươi nghi làm vậy?
38И рече им: Шта се плашите? И зашто такве мисли улазе у срца ваша?
39Hãy xem tay chân ta: thật chính ta. Hãy rờ đến ta, và hãy xem; thần thì không có thịt xương, mà các ngươi thấy ta có.
39Видите руке моје и ноге моје: ја сам главом; опипајте ме и видите; јер дух тела и костију нема као што видите да ја имам.
40Đang phán vậy, Ngài giơ tay và chân ra cho xem.
40И ово рекавши показа им руке и ноге.
41Nhưng vì cớ môn đồ vui mừng nên chưa tin chắc, và lấy làm lạ, thì Ngài phán rằng: ỳ đây các ngươi có gì ăn không?
41А док они још не вероваху од радости и чуђаху се рече им: Имате ли овде шта за јело?
42Môn đồ dâng cho Ngài một miếng cá nướng.
42А они Му даше комад рибе печене, и меда у саћу.
43Ngài nhận lấy mà ăn trước mặt môn đồ.
43И узевши изједе пред њима.
44Đoạn, Ngài phán rằng: Aáy đó là điều mà khi ta còn ở với các ngươi, ta bảo các ngươi rằng mọi sự đã chép về ta trong luật pháp Môi-se, các sách tiên tri, cùng các Thi Thiên phải được ứng nghiệm.
44И рече им: Ово су речи које сам вам говорио још док сам био с вама, да све треба да се сврши шта је за мене написано у закону Мојсијевом и у пророцима и у псалмима.
45Bấy giờ Ngài mở trí cho môn đồ được hiểu Kinh Thánh.
45Тада им отвори ум да разумеју писмо.
46Ngài phán: Có lời chép rằng Đấng Christ phải chịu đau đớn dường ấy, ngày thứ ba sẽ từ kẻ chết sống lại,
46И рече им: Тако је писано, и тако је требало да Христос пострада и да устане из мртвих трећи дан;
47và người ta sẽ nhân danh Ngài mà rao giảng cho dân các nước sự ăn năn để được tha tội, bắt đầu từ thành Giê-ru-sa-lem.
47и да се проповеда покајање у име Његово и опроштење греха по свим народима почевши од Јерусалима.
48Các ngươi làm chứng về mọi việc đó; ta đây sẽ ban cho các ngươi điều Cha ta đã hứa,
48А ви сте сведоци овоме.
49còn về phần các ngươi, hãy đợi trong thành cho đến khi được mặc lấy quyền phép từ trên cao.
49И гле, ја ћу послати обећање Оца свог на вас; а ви седите у граду јерусалимском док се не обучете у силу с висине.
50Kế đó, Ngài đem môn đồ đi đến nơi xung quanh làng Bê-tha-ni, giơ tay lên mà ban phước cho.
50И изведе их напоље до Витаније, и подигнувши руке своје благослови их.
51Đang khi ban phước, Ngài lìa môn đồ mà được đem lên trời.
51И кад их благосиљаше, одступи од њих, и узношаше се на небо.
52Môn đồ thờ lạy Ngài rồi trở về thành Giê-ru-sa-lem, mừng rỡ lắm.
52И они Му су поклонише, и вратише се у Јерусалим с великом радошћу.
53Môn đồ cứ ở trong đền thờ luôn, ngợi khen Đức Chúa Trời.
53И беху једнако у цркви хвалећи и благосиљајући Бога. Амин.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.