Lu
Chapter 24
Vietnamese Bible (1923 t…

Read in

Smith–Van Dyck Arabic Bible (فان دايك)Brezhoneg (Breton Gospels, 1827)Judson Burmese Bible (1840)Chamorro: Gospels, Acts and PsalmsChinese Union Version, punctuated (Simplified)Chinese Union Version, punctuated (Traditional)Coptic New TestamentCoptic New Testament (Bohairic)Kralice Bible (1613)Testamenta Marra (Dieri New Testament)Petrus Canisius Bible, 1939 (De Heilige Schrift)Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)Berean Standard BibleDouay-Rheims Bible, American Edition (1899)King James Version with ApocryphaWorld English BibleLondona Biblio (Esperanto, 1910)Louis Segond 1910Lutherbibel 1912Greek New Testament, word by word (STEPBible TAGNT)Greek New Testament: 1904 Patriarchal Text (Byzantine)Greek New Testament: Byzantine Text (Robinson–Pierpont 2018)Greek New Testament: Textus ReceptusSBL Greek New TestamentBaibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)Modern Hebrew BibleDiodati Bibbia 1885Freedom Bible (フリーダム・バイブル)Korean Bible, 1910 (한국어 성경)Bible Mutal (Kosraean)Clementine Vulgate, 1598Baibal Olcim (Matupi Chin)Meriam Mir GospelsOld Persian Version (ترجمه قدیم)Kadede Kap (Pohnpeian New Testament and Psalms)Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)Cornilescu Bible (1924), Cyrillic scriptSynodal Translation (Синодальный перевод)Daničić–Karadžić Bible (1868), CyrillicReina-Valera 1909Biblia Takatifu (Swahili): New Testament portionsFreedom Bible (Thai)Tongan Bible, Revised West VersionKulish and Puluj Bible (1905)Vietnamese Bible (1923 translation)
vs Bible Mutal (Kosra…

Compare with

Smith–Van Dyck Arabic Bible (فان دايك)Brezhoneg (Breton Gospels, 1827)Judson Burmese Bible (1840)Chamorro: Gospels, Acts and PsalmsChinese Union Version, punctuated (Simplified)Chinese Union Version, punctuated (Traditional)Coptic New TestamentCoptic New Testament (Bohairic)Kralice Bible (1613)Testamenta Marra (Dieri New Testament)Petrus Canisius Bible, 1939 (De Heilige Schrift)Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)Berean Standard BibleDouay-Rheims Bible, American Edition (1899)King James Version with ApocryphaWorld English BibleLondona Biblio (Esperanto, 1910)Louis Segond 1910Lutherbibel 1912Greek New Testament, word by word (STEPBible TAGNT)Greek New Testament: 1904 Patriarchal Text (Byzantine)Greek New Testament: Byzantine Text (Robinson–Pierpont 2018)Greek New Testament: Textus ReceptusSBL Greek New TestamentBaibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)Modern Hebrew BibleDiodati Bibbia 1885Freedom Bible (フリーダム・バイブル)Korean Bible, 1910 (한국어 성경)Bible Mutal (Kosraean)Clementine Vulgate, 1598Baibal Olcim (Matupi Chin)Meriam Mir GospelsOld Persian Version (ترجمه قدیم)Kadede Kap (Pohnpeian New Testament and Psalms)Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)Cornilescu Bible (1924), Cyrillic scriptSynodal Translation (Синодальный перевод)Daničić–Karadžić Bible (1868), CyrillicReina-Valera 1909Biblia Takatifu (Swahili): New Testament portionsFreedom Bible (Thai)Tongan Bible, Revised West VersionKulish and Puluj Bible (1905)Stop comparing
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Bible Mutal (Kosraean)
1Ngày thứ nhất trong tuần lễ, khi mờ sáng, các người đàn bà ấy lấy thuốc thơm đã sửa soạn đem đến mồ Ngài.
1Toang na ke len se emeet in wik, mutan inge som nu ke kulyuk uh ac us mwe keng ma elos akoela ah.
2Họ thấy hòn đá đã lăn ra khỏi cửa mồ;
2Elos liyauk lah eot sac ipisyukla liki mutun kulyuk sac,
3nhưng bước vào, không thấy xác Đức Chúa Jêsus.
3na elos utyak nu loac; tusruktu elos tiana konauk monin Leum Jesus.
4Đang khi không biết nghĩ làm sao, xảy có hai người nam mặt áo sáng như chớp, hiện ra trước mặt họ.
4Elos arulana fohsak ke ma inge, na in kitin pacl ah na mwet luo tu me siskalos su nukum nuknuk na saromrom.
5Họ đang thất kinh, úp mặt xuống đất; thì hai người ấy nói rằng: Sao các ngươi tìm người sống trong vòng kẻ chết?
5Mutan uh arulana sangeng ac faksufi ke mwet luo ah fahk nu selos, “Efu kowos ku suk el su moul inmasrlon mwet misa?
6Ngài không ở đây đâu, song Ngài đã sống lại. Hãy nhớ khi Ngài còn ở xứ Ga-li-lê, phán cùng các ngươi thể nào,
6El tia oasr inge; el akmoulyeyukyak tari. Esam ma el tuh fahk nu suwos ke el muta Galilee ah:
7Ngài đã phán rằng: Con người phải bị nộp trong tay kẻ có tội, phải bị đóng đinh trên cây thập tự, và ngày thứ ba phải sống lại.
7‘Wen nutin Mwet el ac fah itukyang nu inpoun mwet koluk, ac el ac fah anwuki fin sakseng soko, na tukun len tolu el ac fah sifil moulyak.’”
8Họ bèn nhớ lại những lời Đức Chúa Jêsus đã phán.
8Na mutan uh elos esamak kas lal inge,
9Họ ở mồ trở về, rao truyền mọi sự ấy cho mười một sứ đồ và những người khác.
9ac folokla liki kulyuk uh, ac fahkak ma inge nukewa nu sin mwet singoul sie, weang pac mwet wialos saya.
10Aáy là Ma-ri Ma-đơ-len, Gian-nơ, và Ma-ri mẹ của Gia-cơ, cùng các đàn bà khác đi với họ đã rao truyền như vậy cho các sứ đồ.
10Mutan inge pa Mary Magdalene, Joanna, ac Mary nina kial James. Eltal, ac kutu pac mutan saya ma welultal, pa tukeni fahkak ma inge nu sin mwet sap uh.
11Song các sứ đồ không tin, cho lời ấy như là hư không.
11A mwet sap elos nunku mu mutan inge sramsram wel, oru elos tiana lulalfongelos. [
12Dầu vậy, Phi-e-rơ đứng dậy, chạy đến mồ, cúi xuống mà dòm, chỉ thấy vải liệm ở trên đất, đoạn về nhà, lạ lùng cho việc đã xảy ra.
12Tusruktu Peter el tuyak ac kasrusr nu ke kulyuk uh. El kui nu ten ac liyauk nuknuk linen mukena. Na el folokla nu lohm sel ac arulana fwefela ke ma sikyak uh.]
13Cũng trong ngày ấy, có hai môn đồ đi đến làng kia, gọi là Em-ma-út, cách thành Giê-ru-sa-lem sáu mươi ếch-ta-đơ;
13In len sac pacna, luo pac selos fahsr in som nu in sie siti srisrik pangpang Emmaus, sahp ac mael itkosr liki acn Jerusalem,
14họ đàm luận về những sự đã xảy ra.
14ac eltal tukeni sramsramkin ma nukewa ma sikyak uh.
15Đang khi nói và cãi lẽ nhau, chính Đức Chúa Jêsus đến gần cùng đi đường với họ.
15Ke eltal kaskas ac asiyuki ke ma inge, Jesus sifacna el kalukyang nu yoroltal ac welultal fahsr.
16nhưng mắt hai người ấy bị che khuất không nhìn biết Ngài được.
16Eltal liyal, tusruktu eltal tiana akilenul.
17Ngài phán cùng họ rằng: Các ngươi đang đi đường, nói chuyện gì cùng nhau vậy? Họ dừng lại, buồn bực lắm.
17Jesus el fahk nu seltal, “Mea komtal fahsr srumun an?” Eltal tukeni tui, ac ngetnget in asor.
18Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-ba, trả lời rằng: Có phải chỉ ngươi là khách lạ ở thành Giê-ru-sa-lem, không hay việc đã xảy đến tại đó cách mấy bữa rày sao?
18Sie seltal su pangpang Cleopas el siyuk sel, “Mea, kom mukena pa mwet mutwata se nu Jerusalem ma tia etu ke ma orek we ke len ekasr somla me?”
19Ngài hỏi rằng: Việc gì vậy? Họ trả lời rằng: Aáy là việc đã xảy ra cho Jêsus Na-xa-rét, một đấng tiên tri, có quyền phép trong việc làm và trong lời nói, trước mặt Đức Chúa Trời và cả chúng dân;
19Ac Jesus el siyuk, “Mea ingan?” Na eltal fahk, “Ma uh ma sikyak nu sel Jesus lun Nazareth. Mwet se inge el sie mwet palu, su kas in luti ac orekma lal arulana ku ye mutun God ac mwet uh.
20làm sao mà các thầy tế lễ cả cùng các quan đề hình ta đã nộp Ngài để xử tử, và đã đóng đinh trên cây thập tự.
20Mwet tol fulat lasr ac mwet kol saya elos eisalang in nununkeyuk, na elos wotela elan anwuki fin sakseng.
21Chúng tôi trông mong Ngài sẽ cứu lấy dân Y-sơ-ra-ên; dầu thể ấy, việc xảy ra đã được ba ngày rồi.
21Ac kut tuh finsrak mu el pa ac aksukosokyela Israel uh! Sayen ma inge, misenge len se aktolu tukun ma inge sikyak.
22Thật có mấy người đàn bà trong vòng chúng tôi đã làm cho chúng tôi lấy làm lạ lắm: khi mờ sáng, họ đến mồ,
22Kutu sin mutan ke u lasr uh aklutye kut. Elos toang na som nu ke kulyuk sac,
23không thấy xác Ngài, thì về báo rằng có thiên sứ hiện đến, nói Ngài đang sống.
23tuh tia ku in konauk manol. Elos foloko ac fahk lah elos liye sie aruruma ke lipufan, su fahk nu seltal mu el sifil moul.
24Có mấy người trong vòng chúng tôi cũng đi thăm mồ, thấy mọi điều y như lời họ nói; còn Ngài thì không thấy.
24Kutu sin mwet wiasr uh som nu ke kulyuk sac ac konauk oana ma mutan elos srumun ah, tusruk elos tiana liyalak.”
25Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Hỡi những kẻ dại dột, có lòng chậm tin lời các đấng tiên tri nói!
25Na Jesus el fahk nu seltal, “Pwaye lah komtal arulana afon! Efu ku pahtlac fuk komtal in lulalfongi ma nukewa ma mwet palu ah fahk?
26Há chẳng phải Đấng Christ chịu thương khó thể ấy, mới được vào sự vinh hiển mình sao?
26Ya tia eneneyuk tuh Christ elan keok ke ma inge, na el fah utyak nu in wolana lal?”
27Đoạn, Ngài bắt đầu từ Môi-se rồi kế đến mọi đấng tiên tri mà cắt nghĩa cho hai người đó những lời chỉ về Ngài trong cả Kinh Thánh.
27Ac Jesus el aketeya nu seltal ma fwack kacl in Ma Simusla nukewa, mutawauk ke book lal Moses, fahsru nu ke ma simla sin mwet palu nukewa.
28Khi hai người đi gần đến làng mình định đi, thì Đức Chúa Jêsus dường như muốn đi xa hơn nữa.
28Ke eltal apkuran in sun siti srisrik se eltal fahsr nu we ah, Jesus el oru acnu mu el ac fahla na.
29Nhưng họ ép Ngài dừng lại, mà thưa rằng: Xin ở lại với chúng tôi; vì trời đã xế chiều hầu tối. Vậy, Ngài vào ở lại cùng họ.
29Tuh eltal ikolilya ac fahk, “Tari muta yorosr, mweyen fongeni pa inge.” Ouinge el utyak ac mongla yoroltal.
30Đang khi Ngài ngồi ăn cùng hai người, thì lấy bánh, chúc tạ, đoạn, bẻ ra cho họ.
30El muta in welultal mongo, na el eis bread ac pre lac kac, na el kunsalik ac sang nu seltal.
31Mắt họ bèn mở ra, mà nhìn biết Ngài; song Ngài thoạt biến đi không thấy.
31Na ikakla mutaltal ac eltal akilenulak, ac in pacl sacna el wanginla liki ye mutaltal.
32hai người nói cùng nhau rằng: Khi nãy đi đường, Ngài nói cùng chúng ta và cắt nghĩa Kinh Thánh, lòng chúng ta há chẳng nóng nảy sao?
32Na eltal fahk nu sin sie sin sie, “Ya insiasr tia fusrfusryak ke engan, oana sie e tayak in kut, ke el sramsram nu sesr inkanek uh ac aketeya nu sesr ke Ma Simusla?”
33Nội giờ đó, họ liền đứng dậy, trở về thành Giê-ru-sa-lem, gặp mười một sứ đồ cùng các môn đồ khác đang nhóm lại,
33Eltal sulaklak na tuyak ac folokla nu Jerusalem ac konauk mwet tuma lutlut singoul sie, wi kutu pac mwet saya uh,
34nói với họ rằng: Chúa thật đã sống lại, và hiện ra với Si-môn.
34su fahk nu seltal, “Pwayena lah Leum el moulyak! El sikyang nu sel Simon!”
35Rồi hai người thuật lại sự đã xảy đến khi đi đường, và nhìn biết Ngài lúc bẻ bánh ra là thể nào.
35Na mwet luo ah akkalemye nu selos ma sikyak inkanek ah, ac ke eltal akilenak Leum ke el kunsalik bread uh.
36Môn đồ đang nói chuyện như vậy, chính Đức Chúa Jêsus hiện ra giữa đó mà phán rằng: Bình an cho các ngươi!
36Ke pacl se eltal srakna srumun ma inge, Jesus sifacna el sikyak inmasrlolos [ac fahk nu selos, “Misla nu suwos.”]
37Nhưng môn đồ đều sửng sốt rụng rời, tưởng thấy thần.
37Elos arulana tuninfongla, ac nunku mu elos liyauk inut se.
38Ngài phán rằng: Sao các ngươi bối rối, và sao trong lòng các ngươi nghi làm vậy?
38Na el fahk nu selos, “Efu kowos ku sangeng? Efu kowos ku alolo in nunak lowos uh?
39Hãy xem tay chân ta: thật chính ta. Hãy rờ đến ta, và hãy xem; thần thì không có thịt xương, mà các ngươi thấy ta có.
39Ngetma liye pouk ac niuk, ac liye lah nga pa inge. Kahlyuwi na kowos ac fah etu na pwaye, tuh inut uh wangin ikwa ac sri kac oana ke kowos liye keik uh.” [
40Đang phán vậy, Ngài giơ tay và chân ra cho xem.
40El fahk ma inge, ac kolang paol ac nial nu selos.]
41Nhưng vì cớ môn đồ vui mừng nên chưa tin chắc, và lấy làm lạ, thì Ngài phán rằng: ỳ đây các ngươi có gì ăn không?
41Elos srakna tia ku in lulalfongi, ke sripen arulana yohk fwefela ac engan lalos. Na el siyuk selos, “Ya oasr mongo yuruwos inge?”
42Môn đồ dâng cho Ngài một miếng cá nướng.
42Elos sang nu sel ipin ik manman se,
43Ngài nhận lấy mà ăn trước mặt môn đồ.
43ac el eis ac kang ye mutalos.
44Đoạn, Ngài phán rằng: Aáy đó là điều mà khi ta còn ở với các ngươi, ta bảo các ngươi rằng mọi sự đã chép về ta trong luật pháp Môi-se, các sách tiên tri, cùng các Thi Thiên phải được ứng nghiệm.
44Na el fahk nu selos, “Pa inge ma nga tuh fahk nu suwos ke nga srakna muta yuruwos ah: Ma nukewa ma simla keik in Masap lal Moses, in ma simusla lun mwet palu, ac in book in Psalm uh enenu na in akpwayeiyukla.”
45Bấy giờ Ngài mở trí cho môn đồ được hiểu Kinh Thánh.
45Na el ikasla nunak lalos in kalem ke Ma Simusla uh,
46Ngài phán: Có lời chép rằng Đấng Christ phải chịu đau đớn dường ấy, ngày thứ ba sẽ từ kẻ chết sống lại,
46ac fahk nu selos, “Pa inge ma simla uh: Christ el ac fah keok, ac el ac fah moulyak liki misa ke len se aktolu,
47và người ta sẽ nhân danh Ngài mà rao giảng cho dân các nước sự ăn năn để được tha tội, bắt đầu từ thành Giê-ru-sa-lem.
47ac ke inel, pweng ke auliyak ac nunak munas ke ma koluk enenu in lutiyuk in facl nukewa, mutawauk Jerusalem.
48Các ngươi làm chứng về mọi việc đó; ta đây sẽ ban cho các ngươi điều Cha ta đã hứa,
48Kowos mwet loh ke ma inge.
49còn về phần các ngươi, hãy đợi trong thành cho đến khi được mặc lấy quyền phép từ trên cao.
49Ac nga ac fah supwama nu fowos ma su Papa tumuk El wulela kac. Tusruktu kowos enenu in mutana in siti uh nwe ke na ku lucng me fah tuku nu fowos.”
50Kế đó, Ngài đem môn đồ đi đến nơi xung quanh làng Bê-tha-ni, giơ tay lên mà ban phước cho.
50Na el kololosla nu likin siti uh ac som apkuran nu Bethany, ac el srukak paol nu faclos ac akinsewowoyalos.
51Đang khi ban phước, Ngài lìa môn đồ mà được đem lên trời.
51Ke pacl se el akinsewowoyalos inge, el som lukelos, [ac utukyak el nu inkusrao.]
52Môn đồ thờ lạy Ngài rồi trở về thành Giê-ru-sa-lem, mừng rỡ lắm.
52Elos alu nu sel, tari elos folokla nu Jerusalem, sesseslana ke engan,
53Môn đồ cứ ở trong đền thờ luôn, ngợi khen Đức Chúa Trời.
53ac len nukewa elos muta in Tempul ac sang kulo nu sin God.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.