Phục 10
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Trong lúc đó, Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Hãy đục hai bảng đá như hai bảng trước, và hãy lên đến ta trên núi; ngươi cũng phải đóng một cái hòm bằng cây.
1To naah Angraeng mah kai khaeah, Hmaloe ih thlung kangphaek baktih, thlung kangphaek hnetto la ah loe, kai khaeah angzo tahang ah; thing hoiah thingkhong to sah ah.
2Ta sẽ viết trên hai bảng nầy những lời đã có trên hai bảng trước mà ngươi đã đập bể, rồi để hai bảng nầy trong hòm.
2Na vah phaeng ih hmaloe ih thlung pong ih loknawk to kang tarik pae let han; to thlung kangphaek to thing hoiah sak ih thingkhong thungah suem ah, tiah ang naa.
3Vậy, ta đóng một cái hòm bằng cây si-tim, đục hai bảng đá, y như hai bảng trước, rồi đi lên trên núi, cầm hai bảng đó trong tay.
3To pongah shittim thing hoiah thingkhong to ka sak moe, hmaloe ih baktih toengah thlung kangphaek hnetto ka lak; thlung kangphaek hnetto ban ah ka sin moe, mae nuiah ka dawh tahang.
4Ngài viết trên hai bảng nầy lời Ngài đã viết lần trước, tức là mười điều răn mà Đức Giê-hô-va từ giữa lửa tại trên núi, có phán cùng các ngươi, trong ngày nhóm hiệp; rồi Đức Giê-hô-va trao cho ta.
4Nam khueng o haih niah, hmai kangqong mae nui hoiah ang thuih o ih kaalok hato loe, hmaloe ah tarik ih baktih toengah, Angraeng mah to ih thlung kangphaek hnetto nuiah tarik let pacoengah kai khaeah ang paek.
5Ta trở đi xuống núi, để hai bảng vào hòm mà ta đã đóng, và hai bảng ấy còn ở tại đó, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn ta vậy.
5Kang qoi moe, mae nui hoiah kang hum tathuk, to pacoengah thlung kangphaek hnetto to ka sak ih thingkhong thungah ka suek; Angraeng mah paek ih lok baktih toengah, vaihi khoek to thingkhong thungah oh.
6Vả, dân Y-sơ-ra-ên đi từ Bê-rốt Bê-nê-Gia-can đến Mô-sê-ra. A-rôn qua đời và được chôn tại đó; Ê-lê-a-sa, con trai người, làm chức tế lễ thế cho người.
6Israel kaminawk loe Jaakan kaminawk ohhaih Beeroth hoiah Moserah ah caeh o; Aaron loe to ahmuen ah duek moe, aphum o; a capa Eleazar loe anih zuengah qaima ah oh.
7Từ đó, dân Y-sơ-ra-ên đi đến Gút-gô-đa, rồi từ Gút-gô-đa đến Dốt-ba-tha, là xứ có nhiều sông rạch.
7To ahmuen hoiah Gudgodah ah a caeh o; Gudgodah hoiah caeh o moe, vapui tui pophaih Jotbath ah atai o.
8Trong lúc ấy, Đức Giê-hô-va biệt chi phái Lê-vi riêng ra, đặng khiêng hòm giao ước của Đức Giê-hô-va, chầu chực trước mặt Đức Giê-hô-va, phục sự Ngài, và nhân danh Ngài chức phước, cho đến ngày nay.
8To nathuem ah Angraeng lokmaihaih thingkhong to aput hanah, Angraeng hmaa ah angdoet moe, anih ih tok to sak pacoengah, Angraeng hmin hoiah kaminawk tahamhoihaih paek hanah, Angraeng mah Levi acaengnawk to vaihni ni khoek to pahoe.
9Bởi cớ đó, Lê-vi không phần, không nghiệp với anh em mình; Đức Giê-hô-va là cơ nghiệp của ngươi y như Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã phán cùng người.
9To pongah Levinawk loe angmacae nawkamyanawk salakah qawktoep han tawn o ai; nangcae ih Angraeng Sithaw mah thuih ih lok baktih toengah, nihcae ih qawk loe Angraeng angmah to boeh ni.
10Vậy, ta ở trên núi trong bốn mươi ngày và bốn mươi đêm như lần đầu, và lần nầy Đức Giê-hô-va lại nhậm lời ta, bằng lòng không diệt ngươi.
10Hmaloe ih baktih toengah, kai loe mae nuiah ni qui palito hoi qum qui palito thung ka oh; to naah doeh ka Angraeng mah ka lok ang tahngaih pae; Angraeng mah nangcae hum hanah koeh ai.
11Nhưng Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Hãy đứng dậy, đi đầu dân sự, đặng chúng nó vào nhận lấy xứ mà ta đã thề cùng tổ phụ chúng nó, để ban cho chúng nó.
11Angraeng mah kai khaeah, Hae kaminawk paek hanah, angthawk ah; ampanawk khaeah ka sak ih lokkamhaih prae thungah akun o moe toep o hanah, kaminawk hma ah caeh ah, tiah ang naa.
12Vậy, hỡi Y-sơ-ra-ên, bây giờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đòi ngươi điều chi? há chẳng phải đòi ngươi kính sợ Giê-hô-va, Đức Chúa Trời ngươi, đi theo các đạo Ngài, hết lòng hết ý kính mến và phục sự Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi,
12Aw Israel kaminawk, vaihiah na Angraeng Sithaw zithaih ah maw, a caehhaih loklam pazuihaih ah maw, anih palunghaih ah maw, na hing o haih palungthin boih hoiah na Angraeng Sithaw ih toksakhaih ah maw,
13giữ các điều răn và luật lệ của Đức Giê-hô-va, mà ta truyền cho ngươi ngày nay, để ngươi được phước?
13vaihniah khosak na hoih o thai hanah, kang paek o ih Angraeng ih kaalok hoi a zaehhoihaih daannawk pazuihaih khue ai ah loe, na Angraeng Sithaw mah nangcae khae hoi hnik ih kalah hmuen tih maw oh vop?
14Kìa, trời và các từng trời cao hơn trời, đất và mọi vật ở nơi đất đều thuộc về Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi.
14Khenah, vannawk hoi kasang koek vannawk, long hoi a thungah kaom hmuennawk boih loe, Angraeng ih ni.
15Chỉn Đức Giê-hô-va ưa-đẹp các tổ phụ ngươi và yêu mến; rồi trong muôn dân, Ngài đã chọn dòng dõi họ, tức là các ngươi, y như các ngươi thấy ngày nay.
15Toe Angraeng mah nam panawk to palung pongah, vaihni ih baktih toengah nihcae ih caa ah kaom, nangcae hae prae kaminawk salak hoiah ang qoih o.
16Vậy, hãy trừ sự ô uế của lòng mình đi, chớ cứng cổ nữa;
16To pongah nangcae loe palungthin tangyat hin to aat oh, palungthah o hmah.
17vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi là Đức Chúa Trời của các thần, và Chúa của các chúa, tức là Đức Chúa Trời rất lớn, có quyền năng và đáng sợ, không thiên vị ai, chẳng nhận của hối lộ,
17Nangcae ih Angraeng Sithaw loe sithawnawk ih Sithaw, angraengnawk ih Angraeng, kalen koek Sithaw, kami ih mikhmai khen ai, kami mah bokhaih ah paek ih hmuen talawk han koeh ai, thacak zit kathok Sithaw ah oh;
18bào chữa công bình cho kẻ mồ côi và người góa bụa, thương người khách lạ, ban đồ ăn và áo xống cho người.
18Anih loe naqah hoi lamhmainawk khenzawnkung ah oh moe, angvinnawk palungkung, caaknaek hoi khukbuennawk paekkung ah oh.
19Vậy, các ngươi phải thương người khách lạ, vì các ngươi đã làm khách trong xứ Ê-díp-tô.
19To pongah angvinnawk to palung oh; nangcae doeh Izip prae ah angvin ah ni na oh o toeng.
20Ngươi phải kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, phục sự Ngài, tríu mến Ngài, và chỉ danh Ngài mà thề.
20Na Angraeng Sithaw to zii oh loe, a tok to sah pae oh; anih to kacakah patawn oh loe, anih ih ahmin hoiah lokkamhaih to sah oh.
21Aáy chính Ngài là sự vinh quang ngươi và là Đức Chúa Trời ngươi, Đấng đã làm những việc lớn lao và đáng kính nầy, mà mắt ngươi đã thấy.
21Anih loe nangcae pakoehaih hoi Sithaw ah oh; nangcae mikhnuk ah anih mah kalen parai, zit kathok hmuennawk to sak boeh.
22Khi tổ phụ ngươi xuống xứ Ê-díp-tô, số có bảy mươi người; còn bây giờ, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã làm cho ngươi nhiều bằng số sao trên trời vậy.
22Nam panawk loe Izip prae ah kami qui sarihto ni caeh o tathuk; toe vaihi loe na Angraeng Sithaw mah van ih cakaeh zetto pungsak boeh, tiah a naa.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.