Phục 16
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Hãy giữ tháng lúa trỗ làm lễ Vượt-qua cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, vì ấy trong tháng lúa trỗ, mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, đang ban đêm đem ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
1Na Angraeng Sithaw mah Abib khrah, aqum ah nangcae Izip prae hoi ang loih o sak pongah, Abib khrah to zaa oh; na Angraeng Sithaw han misong loihhaih niah patoh oh.
2Tại trong nơi mà Đức Giê-hô-va sẽ chọn để danh Ngài ở, ngươi phải dùng con sinh bằng bầy chiên và bầy bò, dâng làm lễ Vượt-qua cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi.
2Angraeng mah angmah ih ahmin oh hanah, qoih ih ahmuen ah, misong loih angbawnhaih moi to na Angraeng Sithaw khaeah paek oh.
3Với lễ Vượt-qua, chớ ăn bánh pha men; trong bảy ngày ngươi sẽ ăn bánh không men, tức là bánh hoạn nạn, đặng giữ lễ ấy, vì ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô vội vàng; hầu cho trọn đời ngươi nhớ ngày mình đã ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
3Tawt kak hoiah Izip prae to na tacawt o taak pongah, hing thung Izip prae tacawttaakhaih atue to na panoek o poe hanah, ni sarihto thung taeh thuh ai ih takaw to caa oh; taeh thuh ih takaw to caa o hmah.
4Trong bảy ngày, không nên thấy men nơi nhà ngươi, hay trong khắp địa phận ngươi, thịt con sinh mà ngươi đã giết lúc chiều của ngày thứ nhất, thì chớ để đến sáng mai.
4Ni sarihto thung na prae thung boih ah, taeh thuh ih takaw to caa o hmah; ni hmaloe koek duembang ah na paek o ih moi to, khawnbang khoek to amtlai o sak hmah.
5Ngươi không được giết con sinh về lễ Vượt-qua trong một thành nào mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi;
5Na Angraeng Sithaw mah paek ih vangpui boih ah, misong loih angbawnhaih to sah o hmah;
6nhưng chỉ trong nơi mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ chọn để danh Ngài ở; ấy là nơi mà ngươi phải giết con sinh về lễ Vượt-qua, vào lối chiều, vừa khi mặt trời lặn, nhằm giờ mà ngươi đã ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
6na Angraeng Sithaw mah angmah ih ahmin oh hanah, qoih ih ahmuen khue ah, duembang ah misong loih angbawnhaih to sah oh; na tacawt o taak ih Izip prae to panoek poe hanah, niduem naah sah oh.
7Phải nấu thịt con sinh, và ăn tại trong nơi mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ chọn, rồi sáng mai trở về trại mình.
7Na Angraeng Sithaw mah qoih ih ahmuen ah hmai hoi pahai o ah loe, caa oh; khawnbang ah amlaem o ah loe, na oh o haih im ah caeh oh.
8Trong sáu ngày, ngươi phải ăn bánh không men, và qua ngày thứ bảy, sẽ có một lễ trọng thể cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi: ngươi chớ làm một công việc nào.
8Ni tarukto thung taeh thuh ai ih takaw to caa oh, ni sarihto naah loe, na Angraeng Sithaw khaeah amkhueng oh, tok to sah o hmah.
9Ngươi phải đếm bảy tuần; khởi đến bảy tuần nầy từ ngày người ta tra cái lưỡi hái vào mùa gặt;
9Cang aah amtong tangsuek nathuem hoi ni sarihto thung kroek oh.
10kế ngươi sẽ giữ lễ bảy tuần cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi do tay mình đem dâng của lễ lạc ý, tùy theo Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban phước cho ngươi.
10Na Angraeng Sithaw mah tahamhoihaih paek ih baktih toengah, na Angraeng Sithaw hmaa ah na koeh zetto angbawnhaih poih to ni sarihto thung patoh oh.
11Ngươi, con trai, con gái ngươi, tôi trai và tớ gái ngươi, người Lê-vi ở trong thành ngươi, người khách lạ, kẻ mồ côi và người góa bụa ở giữa vòng ngươi, đều sẽ vui vẻ tại trong chỗ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ chọn để danh Ngài ở.
11To naah na Angraeng Sithaw mah angmah ih ahmin oh hanah, qoih ih ahmuen ah nangmah hoi na canu na capanawk, na tamna nongpa hoi nongpatanawk, na vangpui thungah kaom Levinawk, angvinnawk, na qahhnawk, nangcae salakah kaom lamhmainawk hoi nawnto, na Angraeng Sithaw hmaa ah anghoe oh.
12Phải nhớ lại rằng mình đã làm tôi mọi tại xứ Ê-díp-tô, và khá cẩn thận làm theo các luật lệ nầy.
12Izip prae ah misong ah ka oh, tiah panoek oh, hae zaehhoihaih daannawk hae pazui oh loe, sah ah.
13Khi ngươi đã thâu huê lợi của sân đạp lúa và hầm rượu mình rồi, thì phải giữ lễ lều tạm trong bảy ngày.
13Cang aah pacoeng moe, misurtui na pasawh o pacoengah, ni sarihto thung kahni im poih to sah oh.
14Ngươi, con trai và con gái ngươi, tôi trai và tớ gái ngươi, người Lê-vi, khách lạ, kẻ mồ côi, và người góa bụa đều sẽ vui vẻ mà giữ lễ đó.
14Poih kungah, nangmah hoi na canu, na capanawk, na tamna nongpa hoi nongpatanawk, Levi kaminawk, angvinnawk, na vangpui thungah kaom, ampa tawn ai kaminawk, lamhmainawk hoi nawnto anghoe oh.
15Trong bảy ngày ngươi phải giữ lễ nầy cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, tại nơi mà Đức Giê-hô-va sẽ chọn; vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ ban phước cho các mùa màng và mọi công việc của tay ngươi; rồi ngươi sẽ vui mừng trọn vẹn.
15Angraeng mah qoih ih ahmuen ah, ni sarihto thung na Angraeng Sithaw hanah poih to sah oh; to tiah na sak o nahaeloe, na Angraeng Sithaw mah na aah o ih cangnawk hoi na sak o ih hmuennawk boih pongah, tahamhoihaih na paek o tih; to naah nangcae loe anghoehaih hoiah na koep o tih boeh.
16Mọi người nam trong các ngươi, mỗi năm ba lần, phải ra mắt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, tại nơi mà Ngài sẽ chọn: tức là nhằm lễ bánh không men, lễ bảy tuần và lễ lều tạm; người ta chẳng nên đi tay không ra mắt Đức Giê-hô-va.
16Nongpanawk boih loe Angraeng angmah qoih ih ahmuen ah, na Angraeng Sithaw hmaa ah saningto naah taeh thuh ai ih poih vai thumto sakhaih, ni sarihto thung sak ih poih hoi kahni im poihsakhaih ahmuen ah angzoh o han oh; mi kawbaktih doeh Angraeng hmaa ah bangkrai ah angzoh o han om ai.
17Mỗi người sẽ dâng tùy theo của mình có, tùy theo phước mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi.
17Na Angraeng Sithaw mah tahamhoihaih ang paek o ih baktih toengah, kami boih mah a sin o thai tawk hmuen to a sin o han oh.
18Ngươi phải tùy từng chi phái mình lập những quan án trong các thành mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi; những quan án ấy sẽ xử đoán dân sự cách công bình.
18Na Angraeng Sithaw mah ang paek o ih vangpui kruekah, acaengnawk lokcaekkungnawk hoi ukkungnawk to suem oh, kaminawk to toenghaih hoiah uk oh.
19Ngươi chớ làm dịch sự chánh trực, chớ thiên vị ai, cũng chẳng nên nhận của hối lộ; vì của hối lộ làm cho mù mắt kẻ khôn ngoan, và làm rối lời của người công bình.
19Nang loe toenghaih loklam hoiah amkhraeng ving hmah; kami mikhmai doeh khen hmah loe, bokhaih tangqum doeh talawk hmah; bokhaih tangqum mah palungha kaminawk to mikmaengsak moe, katoeng kami ih lok to angkoisak.
20Ngươi phải theo sự công bình cách trọn vẹn, để ngươi được sống và nhận lấy xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi.
20Toenghaih khue to pazui oh; to tiah nahaeloe na hing o ueloe, Angraeng Sithaw mah paek ih prae to na toep o tih.
21Gần bên bàn thờ mà ngươi sẽ lập cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, chớ dựng lên hình tượng của thần A-sê-ra bằng thứ cây nào.
21Na Angraeng Sithaw han na sak o ih hmaicam taengah kawbaktih Asherah tung doeh thling o hmah.
22Cũng chẳng nên dựng lên một trụ thờ nào: Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi lấy làm ghét các vật ấy.
22Na Angraeng Sithaw mah hnukma ih kawbaktih krang doeh thling o hmah.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.