Phục
Chapter 9
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy nghe! ngày nay ngươi sẽ đi ngang qua sông Giô-đanh, đặng chiếm lấy các dân tộc lớn và mạnh hơn ngươi, những thành lớn và tường cao đến trời,
1Aw Israel kaminawk, tahngai oh; vaihiah nangcae pong kalen kue, thacak kue prae kaminawk hoi van khoek to kasang sipae thungh ih vangpuinawk to toep hanah, Jordan vapui to nang kat o tih boeh.
2một dân to lớn và tác cao, là con cháu A-na-kim, mà ngươi đã biết, và có nghe nói rằng: “Ai sẽ đương địch nổi trước mặt con cháu A-nác?”
2To kaminawk loe len o moe, sang o; Anak kaminawk kawng to na panoek o boeh; mi mah maw Anak kaminawk to pazawk thai tih? tiah thuih ih lok doeh na thaih o boeh.
3Vậy, ngày nay phải biết rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đi trước ngươi, như một đám lửa hừng, sẽ tiêu diệt và hạ xuống các dân nầy trước mặt ngươi; ngươi sẽ đuổi ra và diệt chúng nó cách mau, y như Đức Giê-hô-va đã phán cùng ngươi.
3Toe na Angraeng Sithaw loe hmai kangqong baktiah nangcae hmaa ah caeh, tito vaihniah panoek oh; anih mah nihcae to amrosak tih; Anih mah to kaminawk to nangcae hma ah pazawk tih; Angraeng mah thuih ih lok baktih toengah, nihcae to na haek o ueloe, nihcae to karangah na hum o tih.
4Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã đuổi chúng nó khỏi trước mặt ngươi, chớ nói trong lòng rằng: Aáy vì cớ sự công bình tôi mà Đức Giê-hô-va khiến tôi vào nhận lấy xứ nầy; thật là bởi gian ác của các dân tộc đó, nên Đức Giê-hô-va mới đuổi chúng nó ra khỏi trước mặt ngươi.
4Na Angraeng Sithaw mah nangcae hma ah nihcae to haek bit naah, ka toeng pongah ni Angraeng mah hae prae hae toep hanah ang hoih, tiah poek o hmah; hae kaminawk loe set pongah ni Angraeng mah nangcae hma hoiah haek.
5Ngươi vào nhận lấy xứ của các dân tộc ấy, chẳng phải vì cớ sự công bình ngươi, hay là lòng chánh trực của ngươi đâu, nhưng vì cớ sự gian ác của chúng nó, nên Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ đuổi chúng nó ra khỏi trước mặt ngươi, để làm cho ứng nghiệm lời hứa Ngài đã thề cùng các tổ phụ ngươi, là Aùp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp.
5Na toenghaih hoi na poek toenghaih pongah, nihcae ih prae toep hanah na caeh ai; hae acaengnawk loe set o pongah ni, nam pa Abraham, Isak hoi Jakob khaeah lokkamhaih koepsak hanah, nihcae to nangcae hma hoiah Angraeng mah haek.
6Vậy, khá biết rằng chẳng phải vì cớ sự công bình ngươi mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi cho ngươi nhận lấy xứ tốt tươi nầy đâu; bởi ngươi vẫn là một dân cứng cổ.
6Na toeng o pongah na Angraeng Sithaw mah kahoih hae prae hae toep hanah paek ih na ai ni; nangcae loe palungthah kami ah ni na oh o, tito panoek oh.
7Hãy nhớ lại, chớ quên rằng, trong đồng vắng ngươi đã chọc giận Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi. Từ ngày ra khỏi xứ Ê-díp-tô cho đến chốn nầy, ngươi thường phản nghịch cùng Đức Giê-hô-va.
7Praezaek ah na Angraeng Sithaw to kawbangah maw palung na phui o sak, tito pahnet o hmah, pakuem o poe ah; Izip prae na caeh o taak ni hoi kamtong vaihni ni khoek to, Angraeng ih lok tahngai ai kami ah ni na oh o.
8Tại Hô-rếp, các ngươi cũng đã chọc giận Đức Giê-hô-va; nên Ngài nổi thạnh nộ toan diệt các ngươi.
8Horeb ah Angraeng palung na phui o sak, anih loe nangcae hum han khoek to palungphui.
9Khi ta đi lên núi đặng lãnh hai bảng đá, tức là hai bảng về sự giao ước mà Đức Giê-hô-va đã lập cùng các ngươi, ta ở trên núi bốn mươi ngày và bốn mươi đêm, không ăn bánh, chẳng uống nước;
9Angraeng mah nangcae hoi sak ih lokmaihaih thlung to lak hanah, mae nuiah ka dawh tahang naah, takaw ka caa ai, tui doeh nae ai ah, mae nuiah ni qui palito hoi qum qui palito thung ka oh.
10và Đức Giê-hô-va trao cho ta hai bảng đá, bởi ngón tay Đức Chúa Trời viết ra, có đủ những lời mà Đức Giê-hô-va từ giữa lửa, tại trên núi, có phán ra cùng các ngươi, trong ngày nhóm hiệp.
10Sithaw ih banpazung hoiah tarik ih thlung kangphaek hnetto Angraeng mah ang paek; to thlung kangphaek hnetto nuiah loe, hmai kangqong mae nui ih amkhuenghaih niah, Angraeng mah nangcae khaeah thuih ih loknawk boih to oh.
11Xảy khi bốn mươi ngày và bốn mươi đêm mãn rồi, Đức Giê-hô-va ban cho ta hai bảng đá, tức là hai bảng về sự giao ước.
11Ni qui palito hoi qum qui palito boeng pacoengah loe, lokmaihaih thlung kangphaek, thlung kangphaek hnetto Angraeng mah ang paek.
12Đoạn, Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Hãy đứng dậy, mau mau xuống khỏi đây, vì dân mà ngươi đem ra khỏi xứ Ê-díp-tô đã tự bại hoại, vội bỏ đạo của ta đã truyền cho, mà chế cho mình một tượng đúc.
12To naah Angraeng mah kai khaeah, Angthawk ah loe, hae ahmuen hoi karangah caeh tathuk ah; Izip prae hoiah nangzoh haih ih nangmah ih kaminawk loe amro o boeh; ka paek ih lok to nihcae mah angqoi o taak moe, bok hanah krang to a sak o boeh, tiah ang naa.
13Đức Giê-hô-va lại phán cùng ta rằng: Ta nhìn xem dân nầy, kìa là một dân cứng cổ.
13To pacoengah Angraeng mah kai khaeah, Hae kaminawk hae ka hnuk boeh; khenah, nihcae loe palungthah parai kami ah oh o!
14Hãy để mặc ta diệt chúng nó, và xóa tên chúng nó khỏi dưới trời, rồi ta sẽ làm cho ngươi thành một dân tộc mạnh và lớn hơn dân ấy.
14Kaimah bueng na omsak ah, van tlim ah nihcae ih ahmin oh han ai ah, ka phraek moe, nihcae to ka hum han boeh; toe nang loe nihcae pongah thacak kue, kapop kue acaeng ah kang sak han, tiah ang naa.
15Vậy, ta bèn xây lại đi xuống núi, cả núi vẫn có lửa cháy: hai tay ta cầm hai bảng đá về sự giao ước.
15To pongah kang qoi moe, hmai kangqong mae nui hoiah kang hum tathuk; lokmaihaih thlung kangphaek hnetto ban ah ka tapom.
16Bấy giờ, ta nhìn xem, kìa các ngươi đã phạm tội cùng Giê-hô-va. Đức Chúa Trời các ngươi, rất vội bỏ đạo Ngài đã truyền cho, mà làm cho mình một con bò con đúc.
16Ka khet tathuk naah, nangmacae Angraeng Sithaw hmaa ah na zae o boeh, tito ka hnuk; nangmacae hanah maitaw caa krang to na sak o; Angraeng mah paek ih loklam hoiah karangah nang qoi o taak.
17Ta bèn nắm hai bảng đá, liệng ra khỏi tay, đập bể trước mặt các ngươi.
17To pongah ka ban ih thlung kangphaek hnetto to ka lak moe, nangcae mikhnuk ah ka vah phaeng.
18Đoạn, vì cớ các ngươi làm dữ, phạm tội trọng trước mặt Đức Giê-hô-va, chọc cho Ngài giận, nên ta lại sấp mình xuống trước mặt Đức Giê-hô-va, trong bốn mươi ngày và bốn mươi đêm như lần trước, không ăn bánh và chẳng uống nước.
18Nangcae mah Angraeng palungphuisak hanah, anih hmaa ah na sak o ih zaehaih pongah, hmaloe ah ka sak ih baktih toengah, takaw to ka caa ai, tui doeh nae ai ah, Angraeng hmaa ah ni qui palito hoi qum qui palito ka kuep.
19Vì ta sợ cơn thạnh nộ và tức giận của Đức Giê-hô-va đã nổi phừng lên, đặng diệt các ngươi; nhưng Đức Giê-hô-va còn nhậm lời ta lần nầy nữa.
19Nangcae hum han khoek to hmai baktiah kamngaeh Angraeng palungphuihaih to ka zit. Toe Angraeng mah ka lok ang tahngaih pae.
20Đức Giê-hô-va cũng nổi nóng phừng cùng A-rôn, đến đỗi muốn giết người; song ta cũng cầu nguyện cho A-rôn trong lúc đó.
20Angraeng loe Aaron hum han khoek to palungphui; toe to nathuem ah kai mah Aaron hanah lawk ka thuih pae.
21Đoạn, ta lấy vật tội lỗi của các ngươi, tức là con bò con mà các ngươi đã làm, đem đốt trong lửa, đập bể ra từng miếng, nghiền cho đến đỗi nó tan ra bụi, rồi đổ bụi ấy nơi khe ở trên núi chảy xuống.
21Nangcae zaehaih ah kaom, ban hoi na sak o ih maitaw caa krang to ka lak moe, hmai hoiah ka qoeng; ka tit moe, kadip pueng khoek to ka naep pacoengah, mae nui hoiah long kathuk tui thungah ka vah.
22Các ngươi cũng có chọc giận Đức Giê-hô-va tại Tha-bê-ra, tại Ma-sa, và tại Kíp-rốt-Ha-tha-va.
22Taberah, Massah, Kibroth-Hattavah ahmuen ah doeh Angraeng palungphui hanah na sak o.
23Khi Đức Giê-hô-va sai các ngươi đi từ Ca-đe-Ba-nê-a, có dặn rằng: Hãy đi lên nhận lấy xứ ta ban cho các ngươi, thì các ngươi đã bội nghịch mạng của Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, không tin Ngài và không nghe theo tiếng Ngài.
23Angraeng mah Kadesh-Barnea hoiah, Caeh oh loe kang paek o ih prae to toep oh, tiah ang patoeh o; toe na Angraeng Sithaw mah paek ih lok to na aek o; anih to na oep o ai moe, a lok doeh na tahngai pae o ai.
24Từ ngày ta biết các ngươi cho đến bây giờ, các ngươi thường phản nghịch cùng Đức Giê-hô-va.
24Nangcae kang panoek tangsuek nathuem hoi boeh ni Angraeng ih lok aek kami ah na oh o.
25Vậy, vì cớ Đức Giê-hô-va có phán rằng Ngài toan diệt các ngươi, nên ta cứ sấp mình xuống trước mặt Đức Giê-hô-va trong bốn mươi ngày và bốn mươi đêm,
25Angraeng mah nangcae hum han thuih naah, hmaloe ah ka sak ih baktih toengah, ni qui palito hoi qum qui palito thung Angraeng hmaa ah ka kuep.
26cầu khẩn Ngài mà rằng: Chúa Giê-hô-va ôi! xin chớ diệt dân sự của Chúa, là cơ nghiệp của Chúa, mà Chúa đã lấy sự oai nghiêm Ngài chuộc lại, và nhờ tay quyền năng rút ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
26Angraeng khaeah, Angraeng Sithaw, lensawkhaih hoiah na pahlong ih nangmah ih kaminawk hoi thacak na ban hoiah Izip prae thung hoi na zaehhoih ih, na qawktoep kaminawk to hum hmah.
27Xin hãy nhớ đến những tôi tớ của Chúa là Aùp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp, chớ chấp sự cứng lòng, hung dữ, và tội ác của dân nầy,
27Na tamna Abraham, Issak hoi Jakob to pahnet hmah loe, hae kaminawk ih palung thahhaih, a set o haih hoi a zae o haihnawk doeh khen pae hmah rae ah;
28e dân của xứ mà Chúa đã đem chúng tôi ra khỏi đó, nói rằng: Bởi vì Đức Giê-hô-va không thế đem dân ấy vào xứ Ngài đã hứa, và vì Ngài ghét chúng nó, nên dẫn chúng nó ra khỏi xứ đặng giết đi trong đồng vắng.
28to tih ai nahaeloe na zaehhoih ih prae kaminawk mah, Angraeng mah lokkam ih prae thungah nihcae to caeh haih thai ai, anih mah hnukma pongah ni nihcae to praezaek ah hum han ih a caeh haih, tiah thui o moeng tih.
29Song chúng vốn là dân sự và cơ nghiệp của Chúa, mà Chúa đã dùng quyền năng lớn và cánh tay giơ thẳng ra, rút ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
29Hae kaminawk loe nangmah ih kami ah ni oh o; na thacakhaih hoi thacak ban na payanghaih hoiah na zaehhoih ih nangmah ih qawktoep kami ah ni a oh o, tiah lawk ka thuih.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.