Phục 25
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Khi nào người ta có tranh tụng nhau, đi đến tòa để cầu quan án xét đoán, thì phải định công bình cho người công bình, và lên án kẻ có tội.
1Kami hnik loe lok angaek hoi moe, lokcaekkung mah nihnik to lokcaek naah, katoeng kami to loihsak ah loe, kasae kami to danpaek ah,
2Nhược bằng kẻ có tội đáng bị đánh đòn, quan án phải khiến người nằm xuống đất, đánh người trước mặt mình, số bao nhiêu đòn tùy theo lỗi của người đã phạm.
2kasae kami to boh han krah nahaeloe, lokcaekkung mah anih to a hmaa ah anghnusak ueloe, a zaehaih kating ah bop tih.
3Quan án khiến đánh đòn người đến bốn chục, chớ đánh quá, kẻo nếu cứ đánh hơn, thì anh em ngươi vì cớ hình phạt thái quá ấy phải ra hèn trước mặt ngươi chăng.
3Toe qui palito pong kamthlai ah boh han om ai; kamthlai ah bop nahaeloe, nam nawkamya loe nangcae mikhnuk ah zae kami ah om tih.
4Chớ khớp miệng con bò trong khi nó đạp lúa.
4Cang atit naah maitaw to tahmawh moem pae caeng hmah.
5Khi anh em ruột ở chung nhau, có một người chết không con, thì vợ của người chết chớ kết đôi cùng người ngoài; anh em chồng phải đi đến cùng nàng, cưới nàng làm vợ, y theo bổn phận của anh em chồng vậy.
5Nawkamya thung ih kami maeto loe caa sah ai ah dueh ving nahaeloe, anih ih zu loe kalah kami khaeah sava sak han om ai; a sava ih amnawk mah anih to zu haih ueloe, a zu khaeah amya mah sak han koi hmuen to koepsak tih.
6Con đầu lòng mà nàng sanh ra sẽ nối danh cho người anh em chết, hầu cho danh của người ấy chớ tuyệt khỏi Y-sơ-ra-ên.
6Israel thung hoiah anghmat han ai ah, a sak hmaloe ih capa nongpa loe kadueh amya ih ahmin to palawk han oh.
7Ví bằng người kia không đẹp lòng lấy nàng, nàng phải lên đến cửa thành, tới cùng các trưởng lão mà nói rằng: người anh em chồng tôi không chịu lưu danh anh em người lại trong Y-sơ-ra-ên, và không muốn cưới tôi y theo phận sự anh em chồng.
7Toe amya ih zu to zu haih han koeh ai nahaeloe, amya ih zu mah vangpui thung ih kacoehtanawk khaeah caeh ueloe, Ka sava ih amnawk loe Israel kaminawk salakah amya ih ahmin ohsak poe han koeh ai; ka nuiah amya ih toksak han koeh ai, tiah thui tih.
8Các trưởng lão của thành ấy sẽ gọi người và nói cùng người; nếu người cứ nói rằng: Tôi không đẹp lòng cưới nàng,
8To naah vangpui thung ih kacoehtanawk mah anih to kawk o ueloe, anih khaeah lokthui pae o tih; toe to kami mah, Kam ya ih zu lak han ka koeh ai, tiah thui khruek nahaeloe,
9thì chị em dâu người sẽ đến gần, trước mặt các trưởng lão, lột giày khỏi chân người, khạc trên mặt người, đoạn cất tiếng nói rằng: Người nào không lập lại nhà anh em mình sẽ bị làm cho như vậy!
9amya ih zu loe kacoehtanawk hmaa ah anih khaeah caeh ueloe, a khokpanai to khring pae tih, a mikhmai ah tamtui hoi pathoih ueloe, amya ih imthong sak han koeh ai kami loe, hae tiah sak han oh, tiah anih han thui pae tih.
10Trong Y-sơ-ra-ên sẽ gọi nhà người là nhà kẻ bị lột giày.
10To kami loe khokpanai khring pae ih acaeng, tiah Israel kaminawk salakah thui o tih.
11Khi hai người đánh lộn nhau, nếu vợ của một trong hai người đến gần đặng giải cứu chồng khỏi tay kẻ đánh, và nàng giơ tay nắm nhằm chỗ kín của kẻ ấy,
11Nongpa hnetto angpan hoi naah, nongpa maeto ih zu loe bop kami ban thung hoiah a sava loihsak hanah angzoh moe, a sava kabop nongpa ih tangzat to patawn pae caeng nahaeloe,
12thì ngươi phải chặt tay nàng đi; mắt ngươi chớ thương xót nàng.
12to nongpata ih ban to takroek pae pat han oh; anih to tahmen hmah.
13Trong bao ngươi chớ có hai thứ trái cân, một thứ già và một thứ non.
13Kangvan ai hmuen zit tahhaih kalen doeh, kathoeng doeh, pasah thungah nawnto pacaeng hmah.
14Trong nhà ngươi chớ có hai thứ ê-pha, một thứ già và một thứ non.
14Hmuen tahhaih kalen maw, kathoeng maw, hnetto na im ah suem hmaek hmah.
15Phải dùng trái cân đúng thật và công bình, cũng phải có ê-pha đúng thật và công bình, để ngươi được sống lâu trên đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi.
15Na Angraeng Sithaw mah ang paek ih prae thungah na hing lung sawk thai hanah, kakoep moe, katoeng hmuen zit tahhaih to patoh ah.
16Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi lấy làm gớm ghiếc người nào làm các điều nầy và phạm sự bất nghĩa.
16To tiah amsoem ai hmuen sah kami hoi katoeng ai ah toksah kami loe, na Angraeng Sithaw hmaa ah panuet thoh.
17Hãy nhớ điều A-ma-léc đã làm cho ngươi dọc đường, khi các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô;
17Izip prae hoi nang zoh o naah, loklam ah Amalek kaminawk mah na nuiah sak o ih hmuennawk to pahnet o hmah,
18thế nào người không kính sợ Đức Chúa Trời, đến đón ngươi trên đường, xông vào binh hậu ngươi, đánh các người yếu theo ngươi, trong khi chính mình ngươi mỏi mệt và nhọc nhằn.
18nangcae tha na zok o sut moe, patang na khang o, Amalek kaminawk loe Sithaw zithaih tawn o ai pongah, loklam ah nangcae to angang moe, nangcae hnukbang kaminawk hoi thacak ai kaminawk to hum o.
19Vậy, khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã ban sự bình an cho, và giải cứu ngươi khỏi mọi kẻ thù nghịch vây phủ ngươi trong xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi nhận lấy làm sản nghiệp, thì phải xóa sự ghi nhớ A-ma-léc khỏi dưới trời. Chớ hề quên!
19Na Angraeng Sithaw mah nangcae khaeah qawk ah paek ih, prae taengah kaom na misanawk boih ban thung hoiah pahlong moe, anghakhaih ang paek o naah, pahnet ving hanah, Amalek kaminawk to van tlim hoiah amrosak boih han oh; na pahnet han om ai.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.