Phục
Chapter 2
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Đoạn, chúng ta trở lại đi vào đồng vắng về hướng Biển đỏ, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn ta, và chúng ta đi vòng lâu ngày quanh núi Sê-i-rơ.
1To pacoengah Angraeng mah kai khaeah thuih ih lok baktih toengah, aicae loe amlaem o moe, tuipui kathim bang caehhaih loklam hoiah, praezaek ah a caeh o; aicae loe Seir mae taengah saning kasawk ah amhet o boeh.
2Đức Giê-hô-va có phán cùng ta mà rằng:
2To naah Angraeng mah kai khaeah,
3Các ngươi đi vòng núi nầy cũng đã lâu rồi, hãy trở lên hướng bắc.
3Nangcae loe hae mae taengah saning kasawk ah nam het o boeh; vaihi angqoi oh loe, aluek bangah caeh oh.
4Hãy truyền lịnh nầy cho dân sự: Các ngươi sẽ trải qua địa phận của anh em mình, tức là con cháu Ê-sau, ở tại Sê-i-rơ, và chúng nó sẽ sợ các ngươi. Nhưng hãy giữ lấy mình,
4Kaminawk khaeah, Seir mae ah, nangmacae ih nawkamya ah kaom, Esau ih caanawk ohhaih ahmuen hoiah na caeh o tih boeh; nihcae mah nangcae to zii o tih; toe acoehaih hoiah om oh;
5chớ có tranh cùng chúng nó, vì ta sẽ không cho các ngươi xứ của chúng nó đâu, dầu đến nỗi một thẻo đất bằng bàn chân cũng không cho. Ta đã ban cho Ê-sau núi Sê-i-rơ làm sản nghiệp.
5nihcae to misa angthawk o thuih hmah; nihcae ih prae to nangcae han kang paek mak ai; na khok cawhhaih kakhawt ahmuen mataeng doeh kang paek o mak ai; Seir mae loe qawk ah toep hanah Esau khaeah ka paek boeh.
6Các ngươi sẽ dùng bạc tiền mà mua lương thực của chúng nó mà ăn, nước mà uống.
6Caak hanah buh to nihcae khaeah phoisa hoiah ni na qan o ueloe, na caa o tih, tui doeh na qanh o pacoengah ni, na nae o tih, tiah thui paeh, tiah ang naa.
7Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã ban phước cho mọi công việc làm của tay ngươi; Ngài đã biết cuộc đi đường ngươi ngang qua đồng vắng lớn lao nầy. Trong bốn mươi năm nầy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi vẫn ở cùng ngươi; ngươi không thiếu chi hết.
7Na Angraeng Sithaw mah na ban toksakhaih nuiah tahamhoihaih ang paek o boeh; kakawk parai hae praezaek ah nam het o, tito anih mah panoek; saning quipalito thung nangcae khaeah na Angraeng Sithaw to oh pongah, angaihaih tidoeh na tawn o ai.
8Vậy, chúng ta có đi ngang qua cách xa anh em ta, là con cháu Ê-sau, ở tại Sê-i-rơ, và bắt đi về hướng đồng vắng Mô-áp, đặng tránh con đường đồng bằng, cùng Ê-lát và Ê-xi-ôn-Ghê-be.
8To pongah Seir mae ah kaom, aimacae nawkamya ah kaom Esau ih caanawk ohhaih ahmuen to a phak o, Elath hoi Ezion-Geber vangpui hoiah azawn ah caehhaih loklam ah a caeh o pacoengah, Moab praezaek caehhaih loklam hoiah a caeh o poe.
9Đức Giê-hô-va bèn phán cùng ta rằng: Chớ đương địch và chớ chiến trận với dân Mô-áp; vì ta không cho ngươi chi trong xứ dân ấy làm sản nghiệp đâu, bởi ta đã ban A-rơ cho con cháu Lót làm sản nghiệp.
9To pacoengah Angraeng mah kai khaeah, Moab kaminawk to tavet o hmah; misatuk hanah palungphui o thui hmah; qawktoep hanah nihcae ih prae to kang paek o ai; Ar prae toep hanah, Lot khaeah ka paek boeh, tiah ang naa.
10(Lúc trước, dân Ê-mim ở tại đó. Aáy là một dân lớn, đông, hình giềnh giàng như dân A-na-kim vậy.
10Canghnii ah Anak kaminawk baktiah kalen, kapop parai Emim kaminawk, to ahmuen ah khosak o;
11Người ta cũng cho dân nầy là dân giềnh giàng như dân A-na-kim; nhưng dân Mô-áp gọi họ là Ê-mim.
11nihcae loe Anak kaminawk baktiah, len o parai; Moab kaminawk mah loe nihcae to Emim, tiah kawk o.
12Dân Hô-rít lúc trước cũng ở tại Sê-i-rơ; song con cháu Ê-sau diệt dân ấy, đoạt lấy xứ họ và ở thế cho, y như Y-sơ-ra-ên làm trong xứ mà Đức Giê-hô-va đã ban cho người làm sản nghiệp).
12Canghnii ah Horim kaminawk doeh Seir mae ah oh o toeng; toe Angraeng mah paek ih prae to qawk ah toep hanah, Israel kaminawk mah sak o ih baktih toengah, Esau ih caanawk mah doeh to kaminawk to haek o moe, nihcae ohhaih ahmuen ah khosak o.
13Bây giờ, hãy đứng dậy, đi ngang qua khe Xê-rết. Vậy, chúng ta có đi ngang khe Xê-rết.
13Angraeng mah, Vaihi angthawk oh loe, Zered vacong ah caeh oh, tiah thuih. To pongah aicae loe Zered vacong hoiah a caeh o.
14Vả, thì giờ về các cuộc đi đường của chúng ta, từ khi lìa khỏi Ca-đe-Ba-nê-a, tới lúc đi ngang qua khe Xê-rết, cộng là ba mươi tám năm, cho đến chừng các người chiến sĩ về đời ấy đã diệt mất khỏi trại quân, y như Đức Giê-hô-va đã thề cùng các người đó.
14Kadesh-Barnea ahmuen hoiah a tacawt o moe, Zered vacong phak karoek to, saning qui thum, tazetto akra. Angraeng mah nihcae khaeah lokkam ih baktih toengah, canghnii hoiah misatuh kaminawk loe, kaminawk ataihaih thung hoiah anghmat o boih.
15Vả lại, tay Đức Giê-hô-va cũng tra vào họ đặng diệt họ khỏi trại quân, cho đến chừng nào họ đều tiêu diệt hết.
15To kaminawk anghmaa boih ai karoek to, kaminawk salak hoiah nihcae to tamit boih hanah, Angraeng mah nihcae to ban phok thuih.
16Xảy khi các người chiến sĩ đã bị tiêu diệt và chết mất khỏi dân sự,
16Kaminawk thung hoiah misatuh kaminawk to paduek moe, tamit boih pacoengah,
17thì Đức Giê-hô-va phán cùng ta mà rằng:
17Angraeng mah kai khaeah,
18Ngày nay ngươi sẽ đi ngang qua A-rơ, bờ cõi của Mô-áp,
18vaihniah Moab prae thung ih Ar ahmuen hoiah caeh oh,
19và đến gần con cháu Am-môn. Chớ đương địch và chớ chiến trận cùng chúng nó; vì ta không cho ngươi chi hết của xứ con cháu Am-môn làm sản nghiệp, bởi ta đã ban xứ đó cho con cháu của Lót làm sản nghiệp.
19Ammon kaminawk khaeah na phak o naah, nihcae to pahrue o hmah, raihaih doeh paek o hmah; Ammon kaminawk ih prae to nangcae han kang paek mak ai; to prae loe qawk ah toep o hanah Lot ih caanawk hanah ka paek boeh, tiah ang naa.
20(Nguyên xứ nầy gọi là xứ Rê-pha-im. Xưa kia dân Rê-pha-im ở đó, dân Am-môn gọi là Xam-xu-mim;
20To prae loe canghnii hoi haeah kaom, kalen parai kaminawk ih prae ah oh; toe Ammon kaminawk mah nihcae to Zamzummims, tiah kawk o.
21ấy là một dân lớn, đông, hình giềnh giàng như dân A-na-kim. Nhưng Đức Giê-hô-va diệt dân Rê-pha-im trước mặt dân Am-môn; dân Am-môn đoạt lấy xứ của họ và ở thế cho.
21To kaminawk loe Anak kaminawk baktiah, len o parai, sang o moe, pop o parai; toe Angraeng mah nihcae to Ammon kaminawk hma ah anghmatsak boih; to pongah nihcae ohhaih ahmuen ah Esau caanawk khosak o.
22Aáy Ngài đã làm cho con cháu Ê-sau, ở tại Sê-i-rơ, là như vậy, khi Ngài hủy diệt dân Hô-rít trước mặt con cháu Ê-sau; họ chiếm lấy xứ dân ấy và ở thế vào chỗ cho đến ngày nay.
22Nihcae Seir ah oh o naah, Angraeng mah Esau ih caanawk hanah to tiah sak pae; nihcae hmaa ah Horim kaminawk to tamit pae boih; nihcae to haek boih pacoengah, nihcae ohhaih ahmuen to Esau ih caanawk mah vaihni ni khoek to khosak o haih.
23Còn dân A-vim, ở trong những làng cho đến Ga-xa, dân Cáp-tô-rim ở từ Cáp-tô ra hủy diệt họ, và ở thế vào cho).
23To baktih toengah, Hazerim hoi Azzah avang khoek to kaom, Avim kaminawk loe, Kaphtor vangpui hoiah tacawt o moe, Kaphtor kaminawk tamit boih pacoengah, nihcae ohhaih ahmuen ah khosak o.
24Hãy đứng dậy đi ngang qua khe Aït-nôn. Kìa, ta đã phó Si-hôn, vua Hết-bôn, là người A-mô-rít, cùng xứ người vào tay ngươi; hãy khởi chiếm lấy và giao chiến cùng người.
24Vaihi angthawk oh loe, Armon vapui hoiah caeh o poe ah; khenah, Amor acaeng, Heshbon siangpahrang Sihon hoi a prae loe na ban ah kang paek boeh; to pongah to ahmuen to toep oh loe, to siangpahrang to tuh oh.
25Ngày nay, ta khởi rải trên các dân tộc trong thiên hạ sự sợ hãi và kinh khủng về danh ngươi, đến đỗi khi nghe nói về ngươi, các dân tộc đó sẽ run rẩy và bị sự kinh khủng áp hãm trước mặt ngươi.
25Vaihniah van tlim ih kaom prae kaminawk boih mah, nangcae to zit moe, ka tasoehsak han; nihcae mah nangcae kawng thaih o naah, mawn o ueloe, paroeai tasoeh o tih, tiah ang naa.
26Bấy giờ, từ đồng vắng Kê-đê-mốt, ta sai sứ giả đến Si-hôn, vua Hết-bôn, lấy lời hòa hảo đặng nói cùng người rằng:
26Kedemoth praezaek hoi Heshbon siangpahrang Sihon khaeah, laicaeh ka patoeh moe, angdaehhaih lok ka thuih pacoengah,
27Xin cho phép tôi đi ngang qua xứ vua; tôi đi theo đường cái luôn luôn, không xây qua bên hữu hay bên tả.
27na prae thung hoiah na caehsak raeh, loklam ah ni ka caeh o poe han; banqoi bantang kang qoi o mak ai.
28Vua sẽ nhận lấy bạc bán lương thực cho, để tôi có mà ăn; sẽ nhận lấy bạc bán nước, để tôi có mà uống. Chỉ hãy để cho tôi đi ngang qua luôn,
28Buh hoi tui to kai khaeah na zaw ah, phoisa hoiah ka qanh o pacoengah ni ka caak o moe, ka naek o han; khok hoiah ni ka caeh o han;
29cũng như con cháu Ê-sau ở tại Sê-i-rơ, và dân Mô-áp ở tại A-rơ đã cho phép vậy, cho đến chừng nào tôi đi qua Giô-đanh, đặng vào xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi ban cho tôi.
29Angraeng mah paek ih prae to ka phak o thai hanah, Jordan vapui kang kaat o ai karoek to, Seir ah kaom kaminawk, Esau ih caanawk, Ar ah kaom kaminawk hoi Moab kaminawk mah ang caeh o sak baktih toengah, na caehsak raeh, tiah ka naa.
30Nhưng Si-hôn, vua Hết-bôn, không khứng chúng ta đi ngang qua địa phận người; vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã khiến cho tánh người ương ngạnh, lòng người cứng cỏi, để phó người vào tay ngươi, y như điều đã xảy đến ngày nay.
30Toe Heshbon siangpahrang Sihon mah caehsak han koeh ai; vaihniah amtueng baktih toengah, nangcae ih Angraeng Sithaw mah Sihon siangpahrang to nangcae ban ah paek han koeh pongah, a poekhaih palungthin to amtaksak moe, palung thahsak.
31Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: kìa, từ bây giờ, ta phó Si-hôn và xứ người cho ngươi. Hãy khởi chiếm lấy xứ người đặng làm cơ nghiệp.
31Angraeng mah kai khaeah, Khenah, Sihon hoi a prae to nangcae ban ah kang paek amtong boeh; to prae to toep hanah, la amtong o lai ah, tiah ang naa.
32Vậy, Si-hôn và cả dân sự người ra đón chúng ta, đặng giao chiến tại Gia-hát.
32Sihon mah aicae tuk hanah, angmah ih misatuh kaminawk boih hoi nawnto, Jahaz vangpui ah angzoh o.
33Nhưng Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta phó người cho chúng ta, và chúng ta đánh bại người, các con trai cùng cả dân sự của người.
33Aicae Angraeng Sithaw mah anih to aicae ban ah paek pongah, anih to a hum o, a capanawk hoi a misatuh kaminawk doeh a hum pae o boih.
34Trong lúc đó, ta chiếm hết các thành người, khấn vái diệt hết các thành, cả người nam, người nữ, và các con trẻ, không chừa lại một ai.
34To naah anih ih vangpuinawk to a lak pae o, nongpa, nongpata, nawktanawk hoi a praenawk to maeto doeh anghmat ai ah a paro pae o boih;
35Chúng ta chỉ có cướp lấy cho phần mình súc vật và hóa tài của các thành mình đã thắng được.
35toe maitawnawk hoi vangpui thung ih hmuenmaenawk khue ni aimacae hanah a lak o.
36Từ A-rô-e, ở trên mé khe Aït-nôn, và cái thành ở trong trũng, cho đến Ga-la-át, chẳng có một thành nào lấy làm kiên cố quá cho chúng ta; Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta đã phó các thành đó cho chúng ta hết.
36Arnon vapui taengah kaom Aroer vangpui, vapui taengah kaom vangpuinawk hoi Gilead vangpui khoek to, a pazawk o thai ai ih vangpui maeto doeh om ai; aicae Angraeng Sithaw mah hmuennawk to aicae ban ah paek boih boeh;
37Chỉn ngươi không có lại gần xứ của con cháu Am-môn, ở dọc khắp mé khe Gia-bốc, hoặc các thành trên núi hay là chỗ nào Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta cấm không cho chúng ta chiếm lấy.
37toe aicae Angraeng Sithaw mah thuih ih lok baktih toengah, Ammon kaminawk ih prae, Jabbok vapui taengah kaom prae loe tetta doeh a la pae o ai.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.