Phục
Chapter 5
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Vậy, Môi-se gọi cả Y-sơ-ra-ên mà nói rằng: Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy nghe những luật lệ và mạng lịnh mà ngày nay ta rao truyền nơi lỗ tai các ngươi; các ngươi phải học tập và cẩn thận làm theo những điều đó.
1Mosi mah Israel kaminawk to kawk boih, nihcae khaeah, Aw Israel kaminawk, vaihniah nangcae thaih naah kang thuih o ih lokcaekhaih hoi zaehhoihaih daan lok hae tahngai oh; amtuk oh, kahoihah pakuem oh loe, pazui oh.
2Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta có lập giao ước cùng chúng ta tại Hô-rếp.
2Aicae Angraeng Sithaw loe Horeb ah aicae hoi lokmaihaih to sak boeh.
3Chẳng phải cùng tổ phụ chúng ta mà Đức Giê-hô-va đã lập giao ước nầy đâu, nhưng cùng hết thảy chúng ta hiện ngày nay còn sống đây.
3Angraeng loe hae lokmaihaih hae aicae ampanawk hoiah sah ai, aicae hoiah ni a sak, vaihniah haeah kaom kahing aicae hoiah ni a sak.
4Đức Giê-hô-va tại trên núi từ giữa lửa, đã đối diện phán cùng các ngươi.
4Mae nui ih hmai thung hoiah nangcae hoi mikhmai kangtong ah Angraeng mah lok ang thuih o,
5Đang lúc đó, ta đứng giữa Đức Giê-hô-va và các ngươi, đặng truyền lại lời của Ngài cho các ngươi; vì các ngươi sợ lửa, không lên trên núi. Ngài phán rằng:
5to naah nangcae mah hmai to na zit o, mae ah na daw o thai ai pongah, Angraeng ih lok nangcae khaeah thuih hanah, Angraeng hoi nangcae salakah kai kang doet,
6Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, đã rút ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, tức là khỏi nhà nô lệ.
6kai loe Izip prae, misong angtanghaih ahmuen hoiah zaehoikung, na Angraeng Sithaw ah ka oh.
7Trước mặt ta ngươi chớ có các thần khác.
7Ka hmaa ah kalah sithaw to bok o hmah.
8Ngươi chớ làm tượng chạm cho mình, cũng chớ làm tượng nào giống như những vật trên trời cao kia, hoặc ở nơi đất thấp nầy, hoặc trong nước dưới đất.
8Van ah kaom, long tlim ah kaom, tui thungah kaom kawbaktih krang hoi kanghmong krang doeh sah o hmah;
9Ngươi chớ quì lạy trước các hình tượng đó, và cũng đừng hầu việc chúng nó; vì ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, tức là Đức Chúa Trời kỵ tà, hễ ai ghét ta, ta sẽ nhơn tội tổ phụ phạt lại con cháu đến ba bốn đời,
9nihcae hma ah akuep o hmah loe, a tok doeh sah pae o hmah; Kai, na Angraeng Sithaw loe, ut panoek Sithaw, ampanawk ih zaehaih pongah a caanawk thuitaekkung, kai hnuma kaminawk ih caanawk to adung thumto maw, dung palito maw karoek thuitaekkung, Sithaw ah ka oh.
10và sẽ làm ơn đến ngàn đời cho những kẻ yêu mến ta và giữ các điều răn ta.
10Toe kai to palung moe, ka thuih ih lok pakuem kaminawk loe, a caanawk adung sangto karoek to palungnathaih amtuengsakkung ah ka oh.
11Ngươi chớ lấy danh của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi mà làm chơi; vì Đức Giê-hô-va không cầm bằng vô tội kẻ nào lấy danh Ngài mà làm chơi.
11Na Angraeng Sithaw ih ahmin to avang ai ah patoh o hmah; amsoem ai ah anih ih ahmin patoh kami loe, Angraeng mah zaehaih tawn ai kami ah suem mak ai.
12Hãy giữ ngày nghỉ đặng làm nên thánh, y như Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã phán dặn ngươi.
12Na Angraeng Sithaw mah thuih ih lok baktih toengah, Sabbath ni to ciim o sak ah.
13Ngươi hãy làm hết công việc mình trong sáu ngày;
13Ni tarukto thung toksah oh, na tok to sak pacoeng o boih ah.
14nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi: chớ làm một công việc nào hết, hoặc ngươi, con trai con gái, tôi trai tớ gái của ngươi, hoặc bò, lừa, hoặc một trong các súc vật của ngươi, hay là khách ở trong nhà ngươi, hầu cho tôi trai và tớ gái ngươi cũng được nghỉ như ngươi.
14Toe ni sarihto naah loe na Angraeng Sithaw ih Sabbath niah oh; to na ni loe tih tok doeh sah o hmah; nangmacae maw, na capa hoi na canu maw, to tih ai boeh loe na tamna nongpa hoi nongpata maw, to tih ai boeh loe na tawnh ih maitaw hoi hrang maw, to tih ai boeh loe kawbaktih maitawnawk maw, na imthung ah kaom angvin mah doeh, tok a sak o han om ai; toksakhaih thung hoiah nang hak o baktih toengah, na tamna nongpa hoi nongpata mah doeh anghak o toeng han oh.
15Khá nhớ rằng ngươi đã làm tôi mọi nơi xứ Ê-díp-tô, và Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi dùng tay quyền năng giơ thẳng ra đem ngươi ra khỏi đó; bởi cớ ấy cho nên Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi có dặn biểu ngươi phải giữ ngày nghỉ.
15Izip prae ah tamna ah na oh o naah, Angraeng mah thacak a ban payanghaih rang hoiah nangcae to zaeh o, tito panoek oh; to pongah ni na Angraeng Sithaw mah Sabbath ni zah hanah ang thuih o.
16Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi, như Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi có phán dặn, hầu cho ngươi được sống lâu và có phước trên đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho.
16Na Angraeng Sithaw mah thuih ih lok baktih toengah, nam no hoi nam pa to khingya oh; to tih nahaeloe na hinglung sawk o ueloe, na Angraeng Sithaw mah ang paek o ih prae thungah, khosak na hoih o tih.
17Ngươi chớ giết người.
17Kami hum hmah.
18Ngươi chớ phạm tội tà dâm.
18Na zu sava laep ah nongpa nongpata zaehaih sah hmah.
19Ngươi chớ trộm cướp.
19Paqu hmah.
20Ngươi chớ làm chứng dối cho kẻ lân cận mình.
20Na imtaeng kami nuiah amsoem ai hnukung ah angdoe hmah.
21Ngươi chớ tham vợ của kẻ lân cận mình; chớ tham nhà của người, hoặc ruộng, tôi trai tớ gái, bò, lừa hay là vật chi thuộc về kẻ lân cận ngươi.
21Na imtaeng kami ih zu to khit hmah; na imtaeng kami ih im, lawk, a tamna nongpa, nongpata, anih ih maitaw tae, anih ih laa hrang, to tih ai boeh loe na imtaeng kami mah tawnh ih kawbaktih hmuen doeh khit hmah, tiah a thuih, tiah a naa.
22Tại trên núi, giữa lửa, mây và sự tối tăm, Đức Giê-hô-va có dùng tiếng lớn phán những lời nầy cho cả hội các ngươi, Ngài không thêm chi hết; đoạn Ngài ghi các lời đó trên hai bảng đá, và trao cho ta.
22Hae lok loe Angraeng mah mae nuiah, hmai, tamai, kathah khoving thung hoi kalen parai lok hoiah ang thuih o ih lok ah oh; kalah lok to thui let ai boeh; to pacoengah anih mah thlung kangphaek hnetto pongah tarik moe, kai khaeah ang paek.
23Vả, trong khi cả núi phát lửa, các ngươi vừa nghe tiếng từ giữa nơi tối tăm phán ra, thì những quan trưởng của các chi phái, và những trưởng lão các ngươi đến gần ta mà nói rằng:
23Mae loe hmai ah angqong moe, kaving thung hoiah lok ka thaih naah, na caeng zaehoikungnawk hoi kacoehtanawk kai khaeah nang zoh o.
24Kìa, Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi đã tỏ ra sự vinh hiển và sự oai nghiêm Ngài cho chúng tôi, và chúng tôi có nghe tiếng Ngài từ giữa lửa phán ra; ngày nay chúng tôi thấy rằng Đức Chúa Trời có phán cùng loài người và loài người vẫn còn sống.
24Nangcae mah, Khenah, aicae Angraeng Sithaw mah a lensawkhaih hoi angraenghaih to aicae khaeah amtuengsak moe, hmai thung hoiah a thuih ih lok to a thaih o boeh; Sithaw loe kami hoiah lok apaeh, toe kami loe hing vop, tiah vaihniah a hnuk o boeh.
25Nhưng bây giờ, cớ sao chúng tôi phải chết? vì đám lửa lớn nầy sẽ tiêu diệt chúng tôi hết. Ví bằng chúng tôi còn có nghe tiếng của Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi, thì chúng tôi phải chết.
25Tipongah vaihi a duek o han loe? Aicae Angraeng Sithaw ih lok, a thaih o let nahaeloe, a dueh o tih boeh, thacak kangqong hae hmai mah aicae hae na kangh tih boeh.
26Vì trong loài người, có ai đã nghe tiếng Đức Chúa Trời sanh hoạt từ giữa lửa phán ra, như chúng tôi mà vẫn còn sống?
26A thaih o ih baktih toengah, kahing Sithaw mah hmai thung hoiah thuih ih lok thaih pacoengah, kawbaktih kami maw kahing vaih?
27Vậy, ông hãy đi đến gần, nghe mọi điều Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi sẽ phán, rồi hãy truyền lại cho chúng tôi mọi điều Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi sẽ phán cho ông; thì chúng tôi sẽ nghe và làm theo.
27Kanghnai ah caeh ah loe, aicae Angraeng Sithaw mah thuih ih lok to tahngai ah; to pacoengah aicae Angraeng Sithaw mah thuih ih lok to kaicae khaeah na thui ah; ka tahngaih o moe, ka pazui o han, tiah na thuih o.
28Đang khi các ngươi bàn cùng ta, Đức Giê-hô-va nghe những lời của các ngươi, nên phán cùng ta rằng: Ta có nghe những lời dân nầy bàn cùng ngươi; chúng nó nói như vậy lấy làm thậm phải.
28Kai khaeah na thuih o ih lok to Angraeng mah thaih pongah, anih mah kai khaeah, Hae kaminawk mah ang thuih o ih loknawk to ka thaih boeh; a thuih o ih loknawk boih loe hoih.
29è! chớ chi dân nầy thường có một lòng kính sợ ta, hằng giữ theo các điều răn ta như thế, để chúng nó và con cháu chúng nó được phước đời đời!
29Aw, nihcae hoi a caanawk dungzan khoek to khosak hoih o thai han hoi kai to zit o moe, ka thuih ih lok pakuem koehhaih palungthin tawnsak hanah ka koehhaih oh.
30Hãy đi nói cùng dân sự rằng: Khá trở về trại mình;
30Angmacae im ah a caeh o let hanah nihcae khaeah thui paeh.
31còn ngươi, hãy ở lại đây với ta, ta sẽ truyền các điều răn, luật lệ, và mạng lịnh mà ngươi sẽ dạy lại cho, để chúng nó làm theo các điều đó trong xứ ta sẽ ban cho họ nhận lấy.
31Toe nihcae mah pazui o moe, nihcae khaeah ka paek ih prae thungah, nihcae na patuk o thai hanah, kaalok boih, lokcaekhaih hoi zaehhoihaih daannawk to nang khaeah kang thuih han oh pongah, nang loe ka taengah angdoe ah, tiah ang naa.
32Vậy, các ngươi khá cẩn thận làm theo, y như Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi đã phán dặn các ngươi; chớ xây qua bên hữu, hoặc qua bên tả.
32To pongah Angraeng mah ang thuih o ih lok to, banqoi bantang amkhraeng taak ai ah nangcae mah sah oh.
33Các ngươi khá đi theo trọn đường mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi đã chỉ cho, để các ngươi được sống, hưởng phước, và ở lâu dài trong xứ mà mình sẽ nhận được.
33Na Angraeng Sithaw mah thuih ih loklam baktih toengah caeh oh, to tiah na sak o nahaeloe, na hing o tih; khosakhoihaih na tawn o ueloe, na toep o ih prae thungah hinglung na sawk o tih.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.