Phục
Chapter 5
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Baibal Olcim (Matu…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibal Olcim (Matupi Chin)
1Vậy, Môi-se gọi cả Y-sơ-ra-ên mà nói rằng: Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy nghe những luật lệ và mạng lịnh mà ngày nay ta rao truyền nơi lỗ tai các ngươi; các ngươi phải học tập và cẩn thận làm theo những điều đó.
1Israel pum te Moses loh a khue tih,” Aw Israel, tihnin ah nangmih hna kaepah kai loh kan thui oltlueh neh laitloeknah he hnatun lah . Te dongah te te cang uh lamtah na vai ham khaw ngaithuen uh lah .
2Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta có lập giao ước cùng chúng ta tại Hô-rếp.
2Mamih kah BOEIPA Pathen loh Horeb ah mamih taengah paipi a sai coeng.
3Chẳng phải cùng tổ phụ chúng ta mà Đức Giê-hô-va đã lập giao ước nầy đâu, nhưng cùng hết thảy chúng ta hiện ngày nay còn sống đây.
3A pa rhoek nen bueng pawt tih tihnin kah mamih neh mamih taengkah mulhing boeih nen khaw tahae kah paipi he BOEIPA loh a sai coeng.
4Đức Giê-hô-va tại trên núi từ giữa lửa, đã đối diện phán cùng các ngươi.
4Tlang ah maelhmai neh maelhmai rhoi hum uh tih nangmih te BOEIPA loh hmai khui lamkah m'voek coeng.
5Đang lúc đó, ta đứng giữa Đức Giê-hô-va và các ngươi, đặng truyền lại lời của Ngài cho các ngươi; vì các ngươi sợ lửa, không lên trên núi. Ngài phán rằng:
5Amah te vaeng hnin ah hmai te na rhih uh tih tlang la na yoeng uh pawt dongah BOEIPA kah olka loh nangmih taengah,
6Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, đã rút ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, tức là khỏi nhà nô lệ.
6'Kai tah Egypt kho kah sal im lamkah nang aka khuen na BOEIPA Pathen ni.
7Trước mặt ta ngươi chớ có các thần khác.
7Ka mikhmuh ah a tloe pathen loh nang taengah om boel saeh.
8Ngươi chớ làm tượng chạm cho mình, cũng chớ làm tượng nào giống như những vật trên trời cao kia, hoặc ở nơi đất thấp nầy, hoặc trong nước dưới đất.
8Vaan dong so neh diklai khui ah khaw, tui neh tui khui ah khaw diklai ah khat khat kah mueithuk muei te namah ham saii boeh.
9Ngươi chớ quì lạy trước các hình tượng đó, và cũng đừng hầu việc chúng nó; vì ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, tức là Đức Chúa Trời kỵ tà, hễ ai ghét ta, ta sẽ nhơn tội tổ phụ phạt lại con cháu đến ba bốn đời,
9Amih te bakop thil boeh, amih taengah thothueng boeh. Kai, na BOEIPA Pathen he thatlai Pathen la ka om dongah a napa rhoek kathaesainah te a ca rhoek pum dongah a khongthum duela, kai aka hmuhuet rhoek te a khongli duela ka cawh.
10và sẽ làm ơn đến ngàn đời cho những kẻ yêu mến ta và giữ các điều răn ta.
10Tedae kai aka lungnah tih ka olpaek te olpaek bangla aka ngaithuen rhoek taengah a thawng thawng la sitlohnah ka saii pah.
11Ngươi chớ lấy danh của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi mà làm chơi; vì Đức Giê-hô-va không cầm bằng vô tội kẻ nào lấy danh Ngài mà làm chơi.
11A poeyoek la a ming aka yan te BOEIPA loh hmil mahpawh. Te dongah na BOEIPA Pathen ming te a poeyoek la yan mailai boeh.
12Hãy giữ ngày nghỉ đặng làm nên thánh, y như Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã phán dặn ngươi.
12Sabbath hnin ngaithuen ham neh ciim ham te na BOEIPA Pathen loh nang n'uen vanbangla,
13Ngươi hãy làm hết công việc mình trong sáu ngày;
13Hnin rhuk ah thotat lamtah na bitat te boeih saii.
14nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi: chớ làm một công việc nào hết, hoặc ngươi, con trai con gái, tôi trai tớ gái của ngươi, hoặc bò, lừa, hoặc một trong các súc vật của ngươi, hay là khách ở trong nhà ngươi, hầu cho tôi trai và tớ gái ngươi cũng được nghỉ như ngươi.
14Tedae a rhih khohnin te tah BOEIPA na Pathen kah Sabbath la om tih namah neh na canu na capa khaw, na salnu neh salpa khaw, na vaito, na laak neh na rhamsa boeih khaw, na vongka khuikah yinlai khaw bi saii boel saeh. Te daengah ni na salnu neh na salpa te namah bangla a duem eh.
15Khá nhớ rằng ngươi đã làm tôi mọi nơi xứ Ê-díp-tô, và Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi dùng tay quyền năng giơ thẳng ra đem ngươi ra khỏi đó; bởi cớ ấy cho nên Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi có dặn biểu ngươi phải giữ ngày nghỉ.
15Egypt kho ah sal la na om vaengah BOEIPA na Pathen loh tlungluen kut neh, a ban a thueng tih te lamloh nang n'khuen te poek lah. Te dongah Sabbath hnin na saii ham te na BOEIPA Pathen loh nang n'uen coeng.
16Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi, như Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi có phán dặn, hầu cho ngươi được sống lâu và có phước trên đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho.
16BOEIPA na Pathen loh nang n'uen vanbangla na nu neh na pa te thangpom lah. Te daengah ni na BOEIPA Pathen loh nang m'paek khohmuen ah na hinglung loh vang vetih nang te khophoeng m'pha sak van eh.
17Ngươi chớ giết người.
17Hlang ngawn boeh.
18Ngươi chớ phạm tội tà dâm.
18Samphaih boeh.
19Ngươi chớ trộm cướp.
19Huencan boeh.
20Ngươi chớ làm chứng dối cho kẻ lân cận mình.
20Na hui te laipai neh a poeyoek la doo boeh.
21Ngươi chớ tham vợ của kẻ lân cận mình; chớ tham nhà của người, hoặc ruộng, tôi trai tớ gái, bò, lừa hay là vật chi thuộc về kẻ lân cận ngươi.
21Na hui kah a yuu khaw nai pah boeh. Na hui kah a im a lo khaw, a salnu neh a salpa, a vaito neh a laak khaw, na hui kah hno boeih te tah nai pah boeh,’ a ti te thui ham la kai loh BOEIPA laklo neh nangmih laklo ah ka pai.
22Tại trên núi, giữa lửa, mây và sự tối tăm, Đức Giê-hô-va có dùng tiếng lớn phán những lời nầy cho cả hội các ngươi, Ngài không thêm chi hết; đoạn Ngài ghi các lời đó trên hai bảng đá, và trao cho ta.
22Hekah olka he BOEIPA loh nangmih hlangping boeih ham tlang ah hmai, cingmai neh yinnah khui lamkah ol ue la a thui tih a thap mueh la lungto lungpael panit dongah a daek phoeiah kai taengla m'paek.
23Vả, trong khi cả núi phát lửa, các ngươi vừa nghe tiếng từ giữa nơi tối tăm phán ra, thì những quan trưởng của các chi phái, và những trưởng lão các ngươi đến gần ta mà nói rằng:
23Khohmuep khui lamkah ol te na yaak uh. Tlang te hmai alh la a om vaengah nangmih koca khuikah a lu rhoek boeih neh a hamca rhoek loh kai taengla na pawk uh.
24Kìa, Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi đã tỏ ra sự vinh hiển và sự oai nghiêm Ngài cho chúng tôi, và chúng tôi có nghe tiếng Ngài từ giữa lửa phán ra; ngày nay chúng tôi thấy rằng Đức Chúa Trời có phán cùng loài người và loài người vẫn còn sống.
24Te phoeiah, 'Mamih kah BOEIPA Pathen loh amah kah thangpomnah, a boeilennah neh mamih taengla ha tueng coeng tih hmai khui lamkah a ol khaw tihnin ah n'yaak uh. Te dongah Pathen loh a voek hlang khaw hing van tila m'hmuh uh coeng he.
25Nhưng bây giờ, cớ sao chúng tôi phải chết? vì đám lửa lớn nầy sẽ tiêu diệt chúng tôi hết. Ví bằng chúng tôi còn có nghe tiếng của Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi, thì chúng tôi phải chết.
25Tahae ah khaw balae tih hekah hmai puei loh mamih n'hlawp vetih n'duek uh eh. Mamih kah BOEIPA Pathen ol he koep yaak ham mamih loh n'khoep uh koinih n'duek uh pawn ni.
26Vì trong loài người, có ai đã nghe tiếng Đức Chúa Trời sanh hoạt từ giữa lửa phán ra, như chúng tôi mà vẫn còn sống?
26Pumsa boeih khuiah hmai khui lamkah aka cal tih aka hing Pathen ol aka ya te unim mamih bangla aka hing.
27Vậy, ông hãy đi đến gần, nghe mọi điều Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi sẽ phán, rồi hãy truyền lại cho chúng tôi mọi điều Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi sẽ phán cho ông; thì chúng tôi sẽ nghe và làm theo.
27Namah te cet lamtah mamih kah BOEIPA Pathen loh a thui boeih te hnatun. Te phoeiah mamih kah BOEIPA Pathen loh nang taengah a thui boeih te kaimih taengah na thui vetih ka yaak uh vaengah ka ngai uh bitni,’ na ti uh.
28Đang khi các ngươi bàn cùng ta, Đức Giê-hô-va nghe những lời của các ngươi, nên phán cùng ta rằng: Ta có nghe những lời dân nầy bàn cùng ngươi; chúng nó nói như vậy lấy làm thậm phải.
28Kai taengah na cal uh vaengkah nangmih olka ol te BOEIPA loh a yaak. Te dongah BOEIPA loh kai taengah, 'Hekah pilnam loh nang taengah a thui olka ol te ka yaak vaengah a thui uh te boeih then.
29è! chớ chi dân nầy thường có một lòng kính sợ ta, hằng giữ theo các điều răn ta như thế, để chúng nó và con cháu chúng nó được phước đời đời!
29Kai rhih ham neh a hing khuiah ka olpaek boeih te ngaithuen ham mah amih kah thinko loh a paan tih om saeh. Te daengah ni amamih neh a ca rhoek loh kumhal duela khophoeng a pha eh.
30Hãy đi nói cùng dân sự rằng: Khá trở về trại mình;
30Cet laeh, na dap la bal lamtah amih te thui pah.
31còn ngươi, hãy ở lại đây với ta, ta sẽ truyền các điều răn, luật lệ, và mạng lịnh mà ngươi sẽ dạy lại cho, để chúng nó làm theo các điều đó trong xứ ta sẽ ban cho họ nhận lấy.
31Tedae nang tah ka taengah om lamtah amih na cang puei ham olpaek, oltlueh neh laitloeknah boeih te nang taengah kang uen eh. Te daengah ni amih loh a pang ham amih taengah ka paek khohmuen ah khaw a vai uh eh,’ a ti.
32Vậy, các ngươi khá cẩn thận làm theo, y như Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi đã phán dặn các ngươi; chớ xây qua bên hữu, hoặc qua bên tả.
32Te dongah na BOEIPA Pathen loh nangmih n'uen bangla na saii ham te ngaithuen lamtah banvoei bantang la phael uh boeh.
33Các ngươi khá đi theo trọn đường mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi đã chỉ cho, để các ngươi được sống, hưởng phước, và ở lâu dài trong xứ mà mình sẽ nhận được.
33Na BOEIPA Pathen loh nangmih n'uen longpuei boeih dongah pongpa uh. Te daengah ni na hing uh vaengah nangmih ham hoeikhang vetih na pang uh ham khohmuen ah na hinglung khaw a vang eh?,” a ti nah.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.