Phục 10
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Trong lúc đó, Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Hãy đục hai bảng đá như hai bảng trước, và hãy lên đến ta trên núi; ngươi cũng phải đóng một cái hòm bằng cây.
1I KELA manawa, olelo mai o Iehova ia'u, E kalai oe nou i elua papapohaku e like me na mea mamua, a e pii mai io'u nei ma ka mauna, a e hana oe nou i pahu laau.
2Ta sẽ viết trên hai bảng nầy những lời đã có trên hai bảng trước mà ngươi đã đập bể, rồi để hai bảng nầy trong hòm.
2A e kahakaha iho au maluna o na papa i na huaolelo i kakauia'i ma na papa mamua i naha ia oe, a e waiho oe ia mau mea iloko o ka pahu.
3Vậy, ta đóng một cái hòm bằng cây si-tim, đục hai bảng đá, y như hai bảng trước, rồi đi lên trên núi, cầm hai bảng đó trong tay.
3A hana aku la au i pahu laau sitima, a kalai iho la au i na papapohaku elua, e like me na mea mamua, a pii aku la i ka mauna me na papa elua ma kuu lima.
4Ngài viết trên hai bảng nầy lời Ngài đã viết lần trước, tức là mười điều răn mà Đức Giê-hô-va từ giữa lửa tại trên núi, có phán cùng các ngươi, trong ngày nhóm hiệp; rồi Đức Giê-hô-va trao cho ta.
4A kahakaha iho la ia maluna o na papa, e like me ke kahakaha ana mamua, i na kauoha he umi, a Iehova i olelo mai ai ia oukou ma ka mauna mailoko mai o ke ahi, i ka la o ka houluulu ana: a haawi mai o Iehova ia mau mea ia'u.
5Ta trở đi xuống núi, để hai bảng vào hòm mà ta đã đóng, và hai bảng ấy còn ở tại đó, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn ta vậy.
5A huli ae la au, a iho iho la ilalo mai ka mauna mai, a waiho iho la au i na papa maloko o ka pahu a'u i hana i, aia no ilaila oia mau mea, e like me ka Iehova i kauoha mai ai ia'u.
6Vả, dân Y-sơ-ra-ên đi từ Bê-rốt Bê-nê-Gia-can đến Mô-sê-ra. A-rôn qua đời và được chôn tại đó; Ê-lê-a-sa, con trai người, làm chức tế lễ thế cho người.
6A hele aku la na mamo a Iseraela mai Beerota o Bene-iaakana a Mosera: malaila i make ai o Aarona, a malaila i kanuia'i oia; a lilo iho la o Eleazara kana keiki i kahuna, i mea pani i kona hakahaka.
7Từ đó, dân Y-sơ-ra-ên đi đến Gút-gô-đa, rồi từ Gút-gô-đa đến Dốt-ba-tha, là xứ có nhiều sông rạch.
7Hele aku la lakou mailaila aku a Gudegoda: a mai Gudegoda a Iotebata, he aina o na kahawai.
8Trong lúc ấy, Đức Giê-hô-va biệt chi phái Lê-vi riêng ra, đặng khiêng hòm giao ước của Đức Giê-hô-va, chầu chực trước mặt Đức Giê-hô-va, phục sự Ngài, và nhân danh Ngài chức phước, cho đến ngày nay.
8I kela manawa hookaawale ae la o Iehova i ka ohana a Levi, e halihali i ka pahuberita o Iehova, e ku imua o Iehova o lawelawe nana, a e hoomaikai aku ma kona inoa, a hiki i keia la.
9Bởi cớ đó, Lê-vi không phần, không nghiệp với anh em mình; Đức Giê-hô-va là cơ nghiệp của ngươi y như Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã phán cùng người.
9No ia mea, aole ho kuleana o ka Levi, aohe aina hooili pu me kona poe hoahanau; o Iehova, oia kona mea hooili e like me ka Iehova kou Akua i olelo mai ai ia ia.
10Vậy, ta ở trên núi trong bốn mươi ngày và bốn mươi đêm như lần đầu, và lần nầy Đức Giê-hô-va lại nhậm lời ta, bằng lòng không diệt ngươi.
10A noho iho la au ma ka mauna o like me ka manawa mamua, hookahi kanaha ao, a hookahi kanaha po; a hoolohe mai o Iehova ia'u i kela manawa, aole i luku mai o Iehova ia oe.
11Nhưng Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Hãy đứng dậy, đi đầu dân sự, đặng chúng nó vào nhận lấy xứ mà ta đã thề cùng tổ phụ chúng nó, để ban cho chúng nó.
11Olelo mai la o Iehova ia'u, E ku ae oe, a hele aku imua o na kanaka, i komo ai lakou, a lilo ia lakou ka aina a'u i hoohiki ai i ko lakou mau kupuna e haawi ia lakou.
12Vậy, hỡi Y-sơ-ra-ên, bây giờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đòi ngươi điều chi? há chẳng phải đòi ngươi kính sợ Giê-hô-va, Đức Chúa Trời ngươi, đi theo các đạo Ngài, hết lòng hết ý kính mến và phục sự Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi,
12Ano hoi, e ka Iseraela, heaha la ka mea a Iehova kou Akua i kauoha mai ai ia oe, aole anei o ka makau ia Iehova kou Akua, o ka hele ma kona mau aoao, a o ke aloha ia ia, a o ka hookauwa na Iehova na kou Akua me kou naau a pau, a me kou uhane a pau,
13giữ các điều răn và luật lệ của Đức Giê-hô-va, mà ta truyền cho ngươi ngày nay, để ngươi được phước?
13O ka malama i na kauoha a Iehova, a me kona mau kanawai a'u e kauoha aku nei ia oe i keia la no kou pono?
14Kìa, trời và các từng trời cao hơn trời, đất và mọi vật ở nơi đất đều thuộc về Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi.
14Aia hoi, no Iehova kou Akua ka lani, a me ka lani o na lani, a me ka honua, a me ka mea a pau iloko.
15Chỉn Đức Giê-hô-va ưa-đẹp các tổ phụ ngươi và yêu mến; rồi trong muôn dân, Ngài đã chọn dòng dõi họ, tức là các ngươi, y như các ngươi thấy ngày nay.
15No ka makemake wale o Iehova i kou mau kupuna e aloha aku ia lakou, i wae mai ai ia i ka lakou poe mamo mahope o lakou, oia hoi ia oukou, mamua o na kanaka a pau, e like me ia i keia la.
16Vậy, hãy trừ sự ô uế của lòng mình đi, chớ cứng cổ nữa;
16No ia hoi, e okipoepoe oukou i ka omaka o ko oukou naau, mai hoopaakiki hou aku i ko oukou a-i.
17vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi là Đức Chúa Trời của các thần, và Chúa của các chúa, tức là Đức Chúa Trời rất lớn, có quyền năng và đáng sợ, không thiên vị ai, chẳng nhận của hối lộ,
17No ka mea, o Iehova ko oukou Akua, he Akua ia o na akua, a he Haku o na haku, he Akua nui, mana, weliweli, aole ia i manao i na maka, aole hoi i lawe i ke kipe:
18bào chữa công bình cho kẻ mồ côi và người góa bụa, thương người khách lạ, ban đồ ăn và áo xống cho người.
18E hoopono aku ana ia no ka poe makua ole, a me na wahinekanemake, a ua aloha hoi ia i ka malihini, a ua haawi ia ia i ka ai a me ka aahu.
19Vậy, các ngươi phải thương người khách lạ, vì các ngươi đã làm khách trong xứ Ê-díp-tô.
19E aloha hoi oukou i ka malihini: no ka mea, he poe malihini oukou ma ka aina o Aigupita.
20Ngươi phải kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, phục sự Ngài, tríu mến Ngài, và chỉ danh Ngài mà thề.
20E makau aku oe in Iehova i kou Akua, e hookauwa oe nana, a e hoopili aku ia ia, a e hoohiki ma kona inoa.
21Aáy chính Ngài là sự vinh quang ngươi và là Đức Chúa Trời ngươi, Đấng đã làm những việc lớn lao và đáng kính nầy, mà mắt ngươi đã thấy.
21Oia no kou hoolea, a oia kou Akua, ka mea i hana mai nou i keia mau mea nui, weliweli a kou mau maka i ike ai.
22Khi tổ phụ ngươi xuống xứ Ê-díp-tô, số có bảy mươi người; còn bây giờ, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã làm cho ngươi nhiều bằng số sao trên trời vậy.
22Hele iho kou poe kupuna ma Aigupita, he kanahiku lakou; ano hoi, ua hoolilo mai o Iehova kou Akua ia oe, a like me na hoku o ka lani ka lehulehu.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.