ลูกา 9
Freedom Bible (Thai)Translation
Freedom Bible (Thai)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1พระองค์เรียกสิบสองคน มารวมกัน และมอบพลังและสิทธิอำนาจแก่พวกเขาเหนือปีศาจทั้งปวง รวมทั้งให้รักษาโรคต่าง ๆ ได้
1Đức Chúa Jêsus nhóm họp mười hai sứ đồ, ban quyền năng phép tắc để trị quỉ chữa bịnh.
2พระองค์ส่งพวกเขาออกไปประกาศอาณาจักรของพระเจ้าและรักษาคนเจ็บป่วย
2Rồi Ngài sai đi rao giảng về nước Đức Chúa Trời cùng chữa lành kẻ có bịnh.
3พระองค์กล่าวกับพวกเขาว่า “อย่าเอาอะไรติดตัวไปในการเดินทาง ไม่ว่าจะเป็นไม้เท้า ถุงย่าม ขนมปัง หรือเงิน และแต่ละคนอย่ามีเสื้อสองตัว
3Ngài dạy rằng: Đi đường chớ đem gì theo hết, hoặc gậy, hoặc bao, hoặc bánh, hoặc tiền bạc; cũng đừng đem hai áo.
4เมื่อพวกคุณเข้าไปในบ้านใด ก็จงพักอยู่ที่นั่นจนกว่าจะออกจากที่นั้น
4Hễ các ngươi vào nhà nào, hãy ở đó cho đến khi đi.
5ถ้ามีคนไม่ต้อนรับพวกคุณ เมื่อออกจากเมืองนั้น จงสะบัดแม้แต่ฝุ่นจากเท้าของพวกคุณไว้เพื่อเป็นพยานกล่าวโทษพวกเขา”
5Còn ai không tiếp rước các ngươi, hãy ra khỏi thành họ, và phủi bụi chân mình để làm chứng nghịch cùng họ.
6พวกเขาจึงออกเดินทางไปตามหมู่บ้านต่าง ๆ ประกาศข่าวดีและรักษาคนให้หายทุกแห่ง
6Vậy, các sứ đồ ra đi, từ làng nầy tới làng kia, rao giảng Tin Lành khắp nơi và chữa lành người có bịnh.
7เฮโรดเจ้าแคว้นได้ยินเรื่องทั้งหมดที่พระองค์ทำ และรู้สึกสับสนมาก เพราะบางคนพูดว่ายอห์นฟื้นขึ้นจากความตายแล้ว
7Bấy giờ, Hê rốt là vua chư hầu, nghe nói về các việc xảy ra, thì không biết nghĩ làm sao; vì kẻ nầy nói rằng: Giăng đã từ kẻ chết sống lại;
8บางคนว่าเอลียาห์ปรากฏตัว และบางคนว่าเหล่าผู้เผยพระวจนะในสมัยก่อนคนหนึ่งฟื้นขึ้นมา
8kẻ khác nói rằng: Ê-li đã hiện ra; và kẻ khác nữa thì rằng: Một trong các đấng tiên tri đời xưa đã sống lại.
9เฮโรดกล่าวว่า “ยอห์นนั้นเราเป็นคนตัดศีรษะ แต่คนนี้เป็นใครกันที่เราได้ยินเรื่องเช่นนี้?” แล้วเขาก็พยายามหาโอกาสพบพระองค์
9Song Hê-rốt thì nói: Ta đã truyền chém Giăng rồi: vậy người nầy là ai, mà ta nghe làm những việc dường ấy? Vua bèn tìm cách thấy Đức Chúa Jêsus.
10เมื่อพวกอัครทูตกลับมา ก็เล่าทุกสิ่งที่พวกเขาทำให้พระองค์ฟัง พระองค์พาพวกเขาออกไปตามลำพังยังบริเวณเปลี่ยวของ เมืองหนึ่งชื่อเบธไซดา
10Các sứ đồ trở về trình cùng Đức Chúa Jêsus mọi việc mình đã làm. Ngài bèn đem các sứ đồ đi tẻ ra với mình đến gần thành kia gọi là Bết-sai-đa.
11แต่ฝูงชนรู้เรื่องจึงตามพระองค์ไป พระองค์ต้อนรับพวกเขา พูดกับพวกเขาเรื่องอาณาจักรของพระเจ้า และรักษาคนที่ต้องการการรักษาให้หาย
11Nhưng dân chúng nghe vậy, thì đi theo Ngài. Đức Chúa Jêsus tiếp đãi dân chúng, giảng cho họ về nước Đức Chúa Trời, và chữa cho những kẻ cần được lành bịnh.
12เมื่อวันเริ่มคล้อยลง สิบสองคนเข้ามาหาพระองค์และกล่าวว่า “ขอส่งฝูงชนไปเถิด เพื่อพวกเขาจะได้ไปตามหมู่บ้านและไร่นาแถบนี้ หาที่พักและหาอาหาร เพราะที่นี่เป็นที่เปลี่ยว”
12Khi gần tối, mười hai sứ đồ đến gần Ngài mà thưa rằng: Xin truyền cho dân chúng về, để họ đến các làng các ấp xung quanh mà trọ và kiếm chi ăn; vì chúng ta ở đây là nơi vắng vẻ.
13แต่พระองค์กล่าวกับพวกเขาว่า “พวกคุณจงหาอะไรให้พวกเขากินเถิด” พวกเขาตอบว่า “พวกเรามีเพียงขนมปังห้าก้อนกับปลาสองตัว เว้นแต่ว่าพวกเราจะไปซื้ออาหารให้คนทั้งหมดนี้”
13Song Ngài phán rằng: Chính các ngươi hãy cho họ ăn. Các sứ đồ thưa rằng: Ví thử chính mình chúng tôi không đi mua đồ ăn cho hết thảy dân nầy, thì chỉ có năm cái bánh và hai con cá mà thôi.
14เพราะมีผู้ชายอยู่ประมาณห้าพันคน พระองค์กล่าวกับสาวกของพระองค์ว่า “จัดให้พวกเขานั่งเป็นกลุ่ม ๆ กลุ่มละประมาณห้าสิบคน”
14Vả, bấy giờ có độ năm ngàn người nam ở đó. Ngài bèn phán cùng môn đồ rằng: Hãy biểu chúng ngồi từng hàng năm mươi người.
15พวกเขาก็ทำเช่นนั้น และจัดให้ทุกคนนั่งลง
15Môn đồ làm theo lời; chúng ngồi xuống hết thảy.
16พระองค์รับขนมปังห้าก้อนกับปลาสองตัวมา แหงนหน้ามองท้องฟ้า กล่าวคำอวยพรแก่ขนมปังกับปลาเหล่านั้น แล้วหักส่งให้สาวกนำไปแจกแก่ฝูงชน
16Đoạn, Đức Chúa Jêsus lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, chúc tạ, rồi bẻ ra trao cho môn đồ, đặng phát cho đoàn dân.
17ทุกคนกินจนอิ่ม และพวกเขาเก็บเศษอาหารที่เหลือได้สิบสองตะกร้า
17Ai nấy ăn no rồi, người ta thâu được mười hai giỏ đầy những miếng thừa.
18ขณะที่พระองค์กำลังอธิษฐานตามลำพัง และมีสาวกอยู่ใกล้ ๆ พระองค์ถามพวกเขาว่า “ฝูงชนพูดว่าเราเป็นใคร?”
18Một ngày kia, Đức Chúa Jêsus đang cầu nguyện riêng, môn đồ nhóm lại xung quanh Ngài, Ngài hỏi rằng: Trong dân chúng, họ nói ta là ai?
19พวกเขาตอบว่า “บางคนว่า ‘ยอห์นผู้ทำพิธีบัพติศมา’ บางคนว่า ‘เอลียาห์’ และบางคนว่าเป็นผู้เผยพระวจนะในสมัยก่อนคนหนึ่งที่ฟื้นขึ้นมา”
19Thưa rằng: Người nầy nói là Giăng Báp-tít, người kia nói là Ê-li; kẻ khác nói là một trong các đấng tiên tri đời xưa sống lại.
20พระองค์ถามพวกเขาว่า “แล้วพวกคุณล่ะ พูดว่าเราเป็นใคร?” เปโตรตอบว่า “พระคริสต์ของพระเจ้า”
20Ngài lại hỏi rằng: Còn về phần các ngươi thì nói ta là ai? Phi-e-rơ thưa rằng: Thầy là Đấng Christ của Đức Chúa Trời.
21แต่พระองค์กำชับและสั่งพวกเขาไม่ให้บอกเรื่องนี้แก่ใคร
21Đức Chúa Jêsus nghiêm cấm môn đồ nói sự ấy với ai,
22โดยกล่าวว่า “บุตรมนุษย์จะต้องทนทุกข์หลายอย่าง ถูกพวกผู้ใหญ่ พวกหัวหน้าปุโรหิต และพวกอาลักษณ์ปฏิเสธ ถูกฆ่า และในวันที่สามจะฟื้นขึ้นจากความตาย”
22và phán thêm rằng: Con người phải chịu nhiều điều khốn khổ, phải bị các trưởng lão, các thầy tế lễ cả, và các thầy thông giáo bỏ ra, phải bị giết, ngày thứ ba phải sống lại.
23พระองค์กล่าวกับทุกคนว่า “ถ้าใครต้องการตามเรามา ให้คนนั้นปฏิเสธตนเอง แบกกางเขนของตน และตามเรามา
23Đoạn, Ngài phán cùng mọi người rằng: Nếu ai muốn theo ta, phải tự bỏ mình đi, mỗi ngày vác thập tự giá mình mà theo ta.
24เพราะใครก็ตามที่ต้องการรักษาชีวิตของตนไว้จะสูญเสียชีวิต แต่ใครก็ตามที่สูญเสียชีวิตเพราะเห็นแก่เรา จะรักษาชีวิตนั้นไว้ได้
24Vì ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai vì cớ ta mất sự sống, thì sẽ cứu.
25คนเราจะได้ประโยชน์อะไร ถ้าได้โลกทั้งโลกมา แต่กลับสูญเสียหรือทำลายตัวเอง?
25Nếu ai được cả thiên hạ, mà chính mình phải mất hoặc hư đi, thì có ích gì?
26เพราะใครก็ตามที่ละอายเพราะเราและคำของเรา บุตรมนุษย์ก็จะละอายเพราะคนนั้น เมื่อพระองค์มาในพระสิริของพระองค์เอง ในพระสิริของพระบิดา และของเหล่าทูตสวรรค์บริสุทธิ์
26Vì nếu ai hổ thẹn về ta và lời ta, thì Con người sẽ hổ thẹn về họ, khi Ngài ngự trong sự vinh hiển của mình, của Cha, và của thiên sứ thánh mà đến.
27แต่เราบอกความจริงแก่พวกคุณว่า มีบางคนที่ยืนอยู่ที่นี่ซึ่งจะไม่ลิ้มรสความตายจนกว่าจะได้เห็นอาณาจักรของพระเจ้า”
27Quả thật, ta nói cùng các ngươi, một vài người trong các ngươi đang đứng đây sẽ không chết trước khi chưa thấy nước Đức Chúa Trời.
28ประมาณแปดวันหลังจากกล่าวเรื่องเหล่านี้ พระองค์พาเปโตร ยอห์น และยากอบขึ้นไปบนภูเขาเพื่ออธิษฐาน
28Độ tám ngày sau khi phán các lời đó, Đức Chúa Jêsus đem Phi-e-rơ, Giăng và Gia-cơ đi với mình lên trên núi để cầu nguyện.
29ขณะที่พระองค์กำลังอธิษฐาน ลักษณะใบหน้าของพระองค์ก็เปลี่ยนไป และเสื้อผ้าของพระองค์กลายเป็นสีขาวส่องประกายเจิดจ้า
29Đang khi cầu nguyện, diện mạo Ngài khác thường, áo Ngài trở nên sắc trắng chói lòa.
30แล้วมีชายสองคนกำลังสนทนากับพระองค์ คือโมเสสกับเอลียาห์
30Và nầy, có hai người nói chuyện cùng Ngài; ấy là Môi-se và Ê-li,
31ทั้งสองปรากฏด้วยพระสิริ และพูดถึงการจากไปของพระองค์ ซึ่งพระองค์กำลังจะทำให้สำเร็จที่กรุงเยรูซาเล็ม
31hiện ra trong sự vinh hiển, và nói về sự Ngài qua đời, là sự sẽ phải ứng nghiệm tại thành Giê-ru-sa-lem.
32เปโตรกับคนที่อยู่กับเขาง่วงจัด แต่เมื่อตื่นเต็มที่แล้ว พวกเขาเห็นพระสิริของพระองค์และชายสองคนที่ยืนอยู่กับพระองค์
32Phi-e-rơ cùng đồng bạn mình buồn ngủ lắm, nhưng vừa tỉnh thức ra, thấy vinh hiển của Đức Chúa Jêsus và hai đấng ấy đứng gần Ngài.
33ขณะที่ชายทั้งสองกำลังจากพระองค์ไป เปโตรกล่าวกับพระเยซูว่า “อาจารย์ ดีจริง ๆ ที่พวกเราอยู่ที่นี่ ให้พวกเราสร้างเพิงสามหลัง หลังหนึ่งสำหรับท่าน หลังหนึ่งสำหรับโมเสส และอีกหลังหนึ่งสำหรับเอลียาห์” เขาพูดโดยไม่รู้ว่าตนกำลังพูดอะไร
33Lúc hai đấng ấy lìa khỏi Đức Chúa Jêsus, Phi-e-rơ thưa Ngài rằng: Thưa thầy, chúng ta ở đây tốt lắm, hãy đóng ba trại, một cái cho thầy, một cái cho Môi-se và một cái cho Ê-li. Vì Phi-e-rơ không biết mình nói chi.
34ขณะที่เขากำลังพูดอยู่นั้น มีเมฆก้อนหนึ่งมาปกคลุมพวกเขา และเมื่อพวกเขาเข้าไปในเมฆก็เกิดความกลัว
34Khi người còn đang nói, có một đám mây kéo đến, bao phủ lấy; và khi vào trong đám mây, các môn đồ đều sợ hãi.
35มีเสียงดังออกมาจากเมฆว่า “ผู้นี้คือบุตรที่รักของเรา จงฟังเขา!”
35Bấy giờ, nghe có tiếng từ trong đám mây phán ra rằng: Nầy là Con ta, Người được lựa chọn của ta, hãy nghe Người.
36เมื่อเสียงนั้นเงียบลง ก็พบว่าพระเยซูอยู่เพียงผู้เดียว พวกเขายังคงเงียบ และในเวลานั้นไม่ได้บอกใครถึงสิ่งที่พวกเขาเห็น
36Khi tiếng ấy phát ra, thì Đức Chúa Jêsus ở một mình. Các môn đồ nín lặng, không nói cùng ai về sự mình đã thấy.
37วันรุ่งขึ้น เมื่อพวกเขาลงมาจากภูเขา ฝูงชนจำนวนมากก็มาพบพระองค์
37Bữa sau, khi Chúa cùng môn đồ từ núi xuống, có đoàn dân đông đến đón rước Ngài.
38ชายคนหนึ่งจากฝูงชนร้องขึ้นว่า “อาจารย์ ข้าพเจ้าขอร้องท่าน โปรดดูบุตรชายของข้าพเจ้าด้วย เพราะเขาเป็นบุตรคนเดียว ของข้าพเจ้า
38Một người trong đám đông kêu lên rằng: Lạy thầy, xin thầy đoái đến con trai tôi, vì là con một tôi.
39มีวิญญาณหนึ่งเข้าสิงเขา แล้วเขาก็ร้องขึ้นทันที วิญญาณนั้นทำให้เขาชักจนมีฟองออกจากปาก และแทบไม่ยอมออกจากเขา ทั้งยังทำร้ายเขาอย่างหนัก
39Một quỉ ám nó, thình lình kêu la; quỉ vật vã nó dữ tợn, làm cho sôi bọt miếng, mình mẩy nát hết, rồi mới ra khỏi.
40ข้าพเจ้าขอให้สาวกของท่านขับมันออก แต่พวกเขาทำไม่ได้”
40Tôi đã xin môn đồ thầy đuổi quỉ đó, nhưng họ đuổi không được.
41พระเยซูตอบว่า “คนยุคที่ไร้ความเชื่อและบิดเบือนเอ๋ย เราจะต้องอยู่กับพวกคุณและอดทนต่อพวกคุณอีกนานเท่าไร? พาบุตรของท่านมาที่นี่เถิด”
41Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hỡi dòng dõi không tin và bội nghịch kia, ta ở với các ngươi và nhịn các ngươi cho đến chừng nào? Hãy đem con của ngươi lại đây.
42ขณะที่เด็กกำลังเข้ามา ปีศาจก็เหวี่ยงเขาลงกับพื้นและทำให้ชักอย่างรุนแรง แต่พระเยซูตำหนิวิญญาณที่ไม่บริสุทธิ์ รักษาเด็กให้หาย และส่งคืนให้บิดาของเขา
42Đứa con trai vừa lại gần, quỉ xô nó nhào xuống đất, và vật vã dữ tợn. Song Đức Chúa Jêsus quở nặng tà ma, chữa lành con trẻ ấy, và giao lại cho cha nó.
43ทุกคนต่างประหลาดใจในความยิ่งใหญ่ของพระเจ้า แต่ขณะที่ทุกคนกำลังอัศจรรย์ใจในสิ่งทั้งปวงที่พระเยซูทำ พระองค์กล่าวกับสาวกว่า
43Ai nấy đều lấy làm lạ về quyền phép cao trọng của Đức Chúa Trời. Khi mọi người đang khen lạ các việc Đức Chúa Jêsus làm, Ngài phán cùng môn đồ rằng:
44“จงให้ถ้อยคำเหล่านี้ซึมเข้าไปในหูของพวกคุณ เพราะบุตรมนุษย์กำลังจะถูกมอบไว้ในมือของมนุษย์”
44Về phần các ngươi, hãy nghe kỹ điều ta sẽ nói cùng: Con người sẽ bị nộp trong tay người ta.
45แต่พวกเขาไม่เข้าใจคำกล่าวนี้ ความหมายนั้นถูกซ่อนไว้จากพวกเขา เพื่อไม่ให้พวกเขาเข้าใจ และพวกเขาก็กลัวที่จะถามพระองค์เกี่ยวกับคำกล่าวนี้
45Nhưng các môn đồ không hiểu lời ấy, vì đã che khuất cho mình để chẳng rõ nghĩa làm sao; và sợ không dám hỏi Ngài về lời ấy.
46แล้วพวกเขาก็โต้เถียงกันว่า ใครในหมู่พวกเขาเป็นใหญ่ที่สุด
46Các môn đồ biện luận cùng nhau cho biết ai là lớn hơn hết trong hàng mình.
47พระเยซูทราบความคิดในใจของพวกเขา จึงพาเด็กเล็กคนหนึ่งมายืนข้างพระองค์
47Nhưng Đức Chúa Jêsus biết ý tưởng trong lòng môn đồ, thì lấy một đứa con trẻ để gần mình,
48แล้วกล่าวกับพวกเขาว่า “ใครก็ตามที่ต้อนรับเด็กเล็กคนนี้ในนามของเรา ก็ต้อนรับเรา และใครก็ตามที่ต้อนรับเรา ก็ต้อนรับพระองค์ผู้ส่งเรามา เพราะผู้ที่เล็กน้อยที่สุดในหมู่พวกคุณทุกคน ผู้นั้นจะเป็นใหญ่”
48mà phán rằng: Hễ ai vì danh ta mà tiếp con trẻ nầy, tức là tiếp ta; còn ai tiếp ta, tức là tiếp Đấng đã sai ta. Vì kẻ nào hèn mọn hơn hết trong vòng các ngươi, ấy chính người đó là kẻ cao trọng.
49ยอห์นตอบว่า “อาจารย์ พวกเราเห็นคนหนึ่งขับปีศาจในนามของท่าน และพวกเราห้ามเขา เพราะเขาไม่ได้ติดตามร่วมกับพวกเรา”
49Giăng cất tiếng nói rằng: Thưa thầy, chúng tôi từng thấy có kẻ nhân danh thầy mà trừ quỉ; chúng tôi đã cấm họ, vì không cùng chúng tôi theo thầy.
50พระเยซูกล่าวกับเขาว่า “อย่าห้ามเขาเลย เพราะคนที่ไม่ต่อต้านพวกเราก็อยู่ฝ่ายพวกเรา”
50Nhưng Đức Chúa Jêsus phán rằng: Đừng cấm họ, vì ai không nghịch cùng các ngươi, là thuận với các ngươi.
51เมื่อใกล้ถึงวันที่พระองค์จะถูกรับขึ้นไป พระองค์ก็มุ่งหน้าอย่างแน่วแน่ไปกรุงเยรูซาเล็ม
51Khi gần đến k” Đức Chúa Jêsus được đem lên khỏi thế gian, Ngài quyết định đi thành Giê-ru-sa-lem.
52และส่งผู้ส่งสารล่วงหน้าไป พวกเขาเข้าไปในหมู่บ้านแห่งหนึ่งของชาวสะมาเรียเพื่อเตรียมการต้อนรับพระองค์
52Ngài sai kẻ đem tin đi trước mình. Họ ra đi, vào một làng của người Sa- ma-ri, để sửa soạn nhà trọ cho Ngài;
53แต่คนในหมู่บ้านไม่ต้อนรับพระองค์ เพราะพระองค์กำลังมุ่งหน้าไปกรุงเยรูซาเล็ม
53song người Sa-ma-ri không tiếp rước Ngài, vì Ngài đi thẳng lên thành Giê- ru-sa-lem.
54เมื่อยากอบกับยอห์นสาวกของพระองค์เห็นเช่นนั้น ก็กล่าวว่า “องค์พระผู้เป็นเจ้า ท่านต้องการให้พวกเราสั่งไฟจากท้องฟ้าลงมาเผาผลาญพวกเขาเหมือนที่เอลียาห์ทำหรือ?”
54Gia-cơ và Giăng là môn đồ Ngài, thấy vậy, nói rằng: Thưa Chúa, Chúa có muốn chúng tôi khiến lửa từ trên trời xuống thiêu họ chăng?
55แต่พระองค์หันมาตำหนิพวกเขาว่า “พวกคุณไม่รู้ว่าพวกคุณมีจิตวิญญาณแบบใด
55Nhưng Đức Chúa Jêsus xây lại quở hai người, mà rằng: Các ngươi không biết tâm thần nào xui giục mình.
56เพราะบุตรมนุษย์ไม่ได้มาเพื่อทำลายชีวิตของมนุษย์ แต่มาเพื่อช่วยพวกเขาให้รอด” แล้วพวกเขาก็ไปยังหมู่บ้านอื่น
56Rồi Ngài cùng môn đồ đi qua làng khác.
57ขณะที่พวกเขากำลังเดินไปตามทาง มีชายคนหนึ่งกล่าวกับพระองค์ว่า “องค์พระผู้เป็นเจ้า ข้าพเจ้าจะติดตามท่านไปทุกแห่งที่ท่านไป”
57Đang khi đi đường, có kẻ thưa Ngài rằng: Chúa đi đâu tôi sẽ theo đó.
58พระเยซูกล่าวกับเขาว่า “สุนัขจิ้งจอกยังมีโพรง และนกในท้องฟ้ายังมีรัง แต่บุตรมนุษย์ไม่มีที่สำหรับวางศีรษะ”
58Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Con cáo có hang, chim trời có ổ; song Con người không có chỗ mà gối đầu.
59พระองค์กล่าวกับอีกคนหนึ่งว่า “จงตามเรามา!” แต่คนนั้นตอบว่า “องค์พระผู้เป็นเจ้า ขออนุญาตให้ข้าพเจ้าไปฝังศพบิดาก่อน”
59Ngài phán cùng kẻ khác rằng: Ngươi hãy theo ta. Kẻ ấy thưa rằng: Xin cho phép tôi đi chôn cha tôi trước đã.
60พระเยซูกล่าวกับเขาว่า “ปล่อยให้คนตายฝังคนตายของพวกเขาเองเถิด ส่วนท่านจงไปประกาศอาณาจักรของพระเจ้า”
60Nhưng Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết; còn ngươi, hãy đi rao giảng nước Đức Chúa Trời.
61อีกคนหนึ่งกล่าวว่า “องค์พระผู้เป็นเจ้า ข้าพเจ้าจะติดตามท่าน แต่ขออนุญาตให้ข้าพเจ้าไปลาคนที่บ้านก่อน”
61Có kẻ khác nữa thưa rằng: Lạy Chúa, tôi sẽ theo Chúa, song xin cho phép tôi trước về từ giã người trong nhà tôi.
62พระเยซูกล่าวกับเขาว่า “ไม่มีใครที่เอามือจับคันไถแล้วหันกลับไปมองข้างหลัง จะเหมาะสมกับอาณาจักรของพระเจ้า”
62Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ai đã tra tay cầm cày, còn ngó lại đằng sau, thì không xứng đáng với nước Đức Chúa Trời.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.