Luka
Chapter 9
Baibal Olcim (Matupi Chin)

Read in

Smith–Van Dyck Arabic Bible (فان دايك)Brezhoneg (Breton Gospels, 1827)Judson Burmese Bible (1840)Chamorro: Gospels, Acts and PsalmsChinese Union Version, punctuated (Simplified)Chinese Union Version, punctuated (Traditional)Coptic New TestamentCoptic New Testament (Bohairic)Kralice Bible (1613)Testamenta Marra (Dieri New Testament)Petrus Canisius Bible, 1939 (De Heilige Schrift)Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)Berean Standard BibleDouay-Rheims Bible, American Edition (1899)King James Version with ApocryphaWorld English BibleLondona Biblio (Esperanto, 1910)Louis Segond 1910Lutherbibel 1912Greek New Testament, word by word (STEPBible TAGNT)Greek New Testament: 1904 Patriarchal Text (Byzantine)Greek New Testament: Byzantine Text (Robinson–Pierpont 2018)Greek New Testament: Textus ReceptusSBL Greek New TestamentBaibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)Modern Hebrew BibleDiodati Bibbia 1885Freedom Bible (フリーダム・バイブル)Korean Bible, 1910 (한국어 성경)Bible Mutal (Kosraean)Clementine Vulgate, 1598Baibal Olcim (Matupi Chin)Meriam Mir GospelsOld Persian Version (ترجمه قدیم)Kadede Kap (Pohnpeian New Testament and Psalms)Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)Cornilescu Bible (1924), Cyrillic scriptSynodal Translation (Синодальный перевод)Daničić–Karadžić Bible (1868), CyrillicReina-Valera 1909Biblia Takatifu (Swahili): New Testament portionsFreedom Bible (Thai)Tongan Bible, Revised West VersionKulish and Puluj Bible (1905)Vietnamese Bible (1923 translation)
vs Vietnamese Bible (…

Compare with

Smith–Van Dyck Arabic Bible (فان دايك)Brezhoneg (Breton Gospels, 1827)Judson Burmese Bible (1840)Chamorro: Gospels, Acts and PsalmsChinese Union Version, punctuated (Simplified)Chinese Union Version, punctuated (Traditional)Coptic New TestamentCoptic New Testament (Bohairic)Kralice Bible (1613)Testamenta Marra (Dieri New Testament)Petrus Canisius Bible, 1939 (De Heilige Schrift)Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)Berean Standard BibleDouay-Rheims Bible, American Edition (1899)King James Version with ApocryphaWorld English BibleLondona Biblio (Esperanto, 1910)Louis Segond 1910Lutherbibel 1912Greek New Testament, word by word (STEPBible TAGNT)Greek New Testament: 1904 Patriarchal Text (Byzantine)Greek New Testament: Byzantine Text (Robinson–Pierpont 2018)Greek New Testament: Textus ReceptusSBL Greek New TestamentBaibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)Modern Hebrew BibleDiodati Bibbia 1885Freedom Bible (フリーダム・バイブル)Korean Bible, 1910 (한국어 성경)Bible Mutal (Kosraean)Clementine Vulgate, 1598Meriam Mir GospelsOld Persian Version (ترجمه قدیم)Kadede Kap (Pohnpeian New Testament and Psalms)Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)Cornilescu Bible (1924), Cyrillic scriptSynodal Translation (Синодальный перевод)Daničić–Karadžić Bible (1868), CyrillicReina-Valera 1909Biblia Takatifu (Swahili): New Testament portionsFreedom Bible (Thai)Tongan Bible, Revised West VersionKulish and Puluj Bible (1905)Vietnamese Bible (1923 translation)Stop comparing
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Baibal Olcim (Matupi Chin)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Hnukbang hlainit te a hueh tih rhaithae te boeih khulae tih tlohtat hoeih sak ham amih taengah thaomnah neh saithainah a paek.
1Đức Chúa Jêsus nhóm họp mười hai sứ đồ, ban quyền năng phép tắc để trị quỉ chữa bịnh.
2Te phoeiah Pathen ram hoe ham neh tattloel hoeih sak ham a tueih.
2Rồi Ngài sai đi rao giảng về nước Đức Chúa Trời cùng chữa lành kẻ có bịnh.
3Te vaengah amih te, “ Longpueng ham cunghol, sungsa, vaidam neh tangka khaw khuen uh boeh. Angki khaw yung nit khuen boeh .
3Ngài dạy rằng: Đi đường chớ đem gì theo hết, hoặc gậy, hoặc bao, hoặc bánh, hoặc tiền bạc; cũng đừng đem hai áo.
4Im te na kun thil coeng atah, na naeh uh to vetih te lamlohna nong uh mako .
4Hễ các ngươi vào nhà nào, hãy ở đó cho đến khi đi.
5Tedae nangmih aka doe pawt te tah kho lamkah na nong vaengah na kho dongah tangdik te, amih aka laipai thil ham khoek pa uh,” a ti nah.
5Còn ai không tiếp rước các ngươi, hãy ra khỏi thành họ, và phủi bụi chân mình để làm chứng nghịch cùng họ.
6Te dongah aka cet rhoek loh kho tom a hil uh tih olthangthen a thui phoeiah khotomrhali ah tloh a hoeih sakuh.
6Vậy, các sứ đồ ra đi, từ làng nầy tới làng kia, rao giảng Tin Lành khắp nơi và chữa lành người có bịnh.
7Aka om hno boeih te khoboei Herod loh a yaak vaengah sut hit. A ngen loh, “Johan te duek lamkah thoo coeng.
7Bấy giờ, Hê rốt là vua chư hầu, nghe nói về các việc xảy ra, thì không biết nghĩ làm sao; vì kẻ nầy nói rằng: Giăng đã từ kẻ chết sống lại;
8A ngen bal loh, “Elijah phoe coeng te, “ a tloe rhoek long tah, “Khosuen kah tonghma khat khat ni aka thoo coeng te,” a ti uh.
8kẻ khác nói rằng: Ê-li đã hiện ra; và kẻ khác nữa thì rằng: Một trong các đấng tiên tri đời xưa đã sống lại.
9Tedae Herod loh, “Johan te ka rhaih coeng dae ulae aka om tih a thang vawk ka yaak he,” a ti tih amah hmuh ham a toem.
9Song Hê-rốt thì nói: Ta đã truyền chém Giăng rồi: vậy người nầy là ai, mà ta nghe làm những việc dường ấy? Vua bèn tìm cách thấy Đức Chúa Jêsus.
10Caeltueih rhoek a bal uh vaengah amamih kah a saii uh boeih te Jesuh taengah a thui uh. Te phoeiah amih te a khuen tih Bethsaida a ti uh kho la amah bueng vil vi uh.
10Các sứ đồ trở về trình cùng Đức Chúa Jêsus mọi việc mình đã làm. Ngài bèn đem các sứ đồ đi tẻ ra với mình đến gần thành kia gọi là Bết-sai-đa.
11Tedae anih aka vai hlangping loh a ming coeng dongah, amih te a doe tih Pathen ram kawng te amih ham a thui pah. Te vaengah hoeihnah aka ngoe rhoek khaw a hoeih sak.
11Nhưng dân chúng nghe vậy, thì đi theo Ngài. Đức Chúa Jêsus tiếp đãi dân chúng, giảng cho họ về nước Đức Chúa Trời, và chữa cho những kẻ cần được lành bịnh.
12Khohnin loh a khum thuk vaengah hlainit rhoek loh amah te a paan tih, “Hlangping he tueih pawn sih, te daengah ni a taengvai kah kho neh lohma la cet vetih a pah nah ham neh buham khaw a dang uh eh. Khosoek hmuen ah ni ng'om uh he,” a ti uh.
12Khi gần tối, mười hai sứ đồ đến gần Ngài mà thưa rằng: Xin truyền cho dân chúng về, để họ đến các làng các ấp xung quanh mà trọ và kiếm chi ăn; vì chúng ta ở đây là nơi vắng vẻ.
13Tedae hnukbang rhoek te, “ Amih kah a caak ham te nangmih loh pae uh,” a ti nah. Te vaengah amih loh, “He Pilnam pum ham caak aka lai la ka cet uh pawt koinih, vaidam panga neh nga panit lakah aka yet te kaimih taengah om voel pawh,” a ti uh.
13Song Ngài phán rằng: Chính các ngươi hãy cho họ ăn. Các sứ đồ thưa rằng: Ví thử chính mình chúng tôi không đi mua đồ ăn cho hết thảy dân nầy, thì chỉ có năm cái bánh và hai con cá mà thôi.
14Te vaengah hlang thawngnga tluk om uh. Tedae a hnukbang rhoek te, “ Amih te a boel pakhat ah hlang sawmnga tluk rhip ngol sak,” a ti nah.
14Vả, bấy giờ có độ năm ngàn người nam ở đó. Ngài bèn phán cùng môn đồ rằng: Hãy biểu chúng ngồi từng hàng năm mươi người.
15Te dongah a saii uh van tih boeih a ngol sak uh.
15Môn đồ làm theo lời; chúng ngồi xuống hết thảy.
16Te phoeiah vaidam panga neh nga panit te a loh. Vaan la oeloe tih a uem phoeiah a aeh tih hlangping te patoeng paek hamla hnukbang rhoek taengah a paek.
16Đoạn, Đức Chúa Jêsus lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, chúc tạ, rồi bẻ ra trao cho môn đồ, đặng phát cho đoàn dân.
17A caak uh tih boeih a hah uh phoeiah a coih a nueipil te voh hlainit la a phueih uh.
17Ai nấy ăn no rồi, người ta thâu được mười hai giỏ đầy những miếng thừa.
18A tue loh a pha vaengah thangthui neh amah bueng om tih hnukbang rhoek loh anih te a puei uh. Te vaengah amih te a dawt tih, “Hlangping loh kai he ulae a ti uh?” a ti nah.
18Một ngày kia, Đức Chúa Jêsus đang cầu nguyện riêng, môn đồ nhóm lại xung quanh Ngài, Ngài hỏi rằng: Trong dân chúng, họ nói ta là ai?
19A doo uh tih, “Hlangvang loh tuinuem Johan, Elijah, hlangvang bal loh khosuen kah tonghma pakhat khat koep thoo,’ a ti uh,” a ti nah.
19Thưa rằng: Người nầy nói là Giăng Báp-tít, người kia nói là Ê-li; kẻ khác nói là một trong các đấng tiên tri đời xưa sống lại.
20Te phoeiah amamih te, “ Nangmih long tah kai he ulae na ti uh?,” a ti nah. Te vaengah Peter loh a doo tih, “Pathen kah Khrih ni,” a ti nah.
20Ngài lại hỏi rằng: Còn về phần các ngươi thì nói ta là ai? Phi-e-rơ thưa rằng: Thầy là Đấng Christ của Đức Chúa Trời.
21Tedae amih te a ho tih te te thui pawt ham a uen.
21Đức Chúa Jêsus nghiêm cấm môn đồ nói sự ấy với ai,
22Hlang Capa tah a muep a patang ham a kuek. Te dongah patong rhoek, khosoihham rhoek, neh cadaek rhoek loh a hnawt uh vetih a ngawn uh ni. Tedae a thum hnin ah thoo ni,” a ti nah.
22và phán thêm rằng: Con người phải chịu nhiều điều khốn khổ, phải bị các trưởng lão, các thầy tế lễ cả, và các thầy thông giáo bỏ ra, phải bị giết, ngày thứ ba phải sống lại.
23Amih boeih te khaw, “ Khat khat long ni ka hnukah lo ham a ngaih atah, amah te hnawt uh saeh lamtah, a thinglam a koh doela hnin takuem ah kai m'vai van saeh .
23Đoạn, Ngài phán cùng mọi người rằng: Nếu ai muốn theo ta, phải tự bỏ mình đi, mỗi ngày vác thập tự giá mình mà theo ta.
24A hinglu te khang ham aka ngaih te tah a hingnah poci ni. Tedae kai kongah hinglu aka poci long tah a hingnah a khang ni .
24Vì ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai vì cớ ta mất sự sống, thì sẽ cứu.
25Hlang loh Diklai pum a dang dae amah poci uh tih a sungdaeh atah balae a hoeikhang eh?
25Nếu ai được cả thiên hạ, mà chính mình phải mất hoặc hư đi, thì có ích gì?
26Kai neh ka ol he aka yah puei te tah capa kah, pa kah, a cim puencawn rhoek kah thangpomnah neh ha pawk vaengah hlang capa loh anih te a yah puei ni .
26Vì nếu ai hổ thẹn về ta và lời ta, thì Con người sẽ hổ thẹn về họ, khi Ngài ngự trong sự vinh hiển của mình, của Cha, và của thiên sứ thánh mà đến.
27Tedae nangmih taengah rhep kan thui. Hekah aka pai khuiah hlangvang om. Amih loh Pathen kah ram he a ming uh hlan atah dueknah te ten uh mueh mahpawh,” a ti nah.
27Quả thật, ta nói cùng các ngươi, một vài người trong các ngươi đang đứng đây sẽ không chết trước khi chưa thấy nước Đức Chúa Trời.
28He kah olka a poeng phoeikah hnin rhet tluk ah, Peter, Johan neh James te a khuen tih tlang la thangthui ham a caeh puei .
28Độ tám ngày sau khi phán các lời đó, Đức Chúa Jêsus đem Phi-e-rơ, Giăng và Gia-cơ đi với mình lên trên núi để cầu nguyện.
29A thangthui vaengah a maelhmai kah a mueimae loh a tloe la om tih a pueinak te a bok la khooi.
29Đang khi cầu nguyện, diện mạo Ngài khác thường, áo Ngài trở nên sắc trắng chói lòa.
30Te vaengah hlang panit loh anih te tarha a voek rhoi. Amih rhoi tah Moses neh Elijah ni.
30Và nầy, có hai người nói chuyện cùng Ngài; ấy là Môi-se và Ê-li,
31Amih rhoi tah thangpomnah neh phoe rhoi tih a Sunglatnah te a thui rhoi. Te te Jerusalem ah soep sak ham om coeng .
31hiện ra trong sự vinh hiển, và nói về sự Ngài qua đời, là sự sẽ phải ứng nghiệm tại thành Giê-ru-sa-lem.
32Tedae Peter neh a taengkah rhoi tah a ih neh bakba a hap uh tih om uh. A haenghang uh vaengah a thangpomnah te a hmuh uh tih a taengah hlang panit ana pai pah.
32Phi-e-rơ cùng đồng bạn mình buồn ngủ lắm, nhưng vừa tỉnh thức ra, thấy vinh hiển của Đức Chúa Jêsus và hai đấng ấy đứng gần Ngài.
33Amih rhoi te Jesuh taeng lamloh a khoe uh phoeiah Peter loh Jesuh te, “Boeipa, he ah he mamih ng'om uh ham then, dap pathum ah tuk uh sih, namah ham pakhat, Moses ham pakhat, Elijah ham pakhat saeh,” a ti nah tih a thui nawn te khaw ming pawh.
33Lúc hai đấng ấy lìa khỏi Đức Chúa Jêsus, Phi-e-rơ thưa Ngài rằng: Thưa thầy, chúng ta ở đây tốt lắm, hãy đóng ba trại, một cái cho thầy, một cái cho Môi-se và một cái cho Ê-li. Vì Phi-e-rơ không biết mình nói chi.
34Te te a a thui vaengah muei yal tih amih te a dah. Te dongah muei khuila a kun uh te khaw a rhih uh.
34Khi người còn đang nói, có một đám mây kéo đến, bao phủ lấy; và khi vào trong đám mây, các môn đồ đều sợ hãi.
35Muei khui lamkah ol ha thoeng tih, “Anih tah ka tuek ka ca ni, a ol hnatun pa uh,” a ti.
35Bấy giờ, nghe có tiếng từ trong đám mây phán ra rằng: Nầy là Con ta, Người được lựa chọn của ta, hãy nghe Người.
36Ol a thui bawt ah Jesuh tah amah bueng te tueng. Amih khaw kam a khuem uh tih te khohnin ah a hmuh uh te puen uh pawh.
36Khi tiếng ấy phát ra, thì Đức Chúa Jêsus ở một mình. Các môn đồ nín lặng, không nói cùng ai về sự mình đã thấy.
37Hnin at om tih a vuen ah amih te tlang lamloh suntla uh. Te vaengah Jesuh te hlangping loh muep a doe.
37Bữa sau, khi Chúa cùng môn đồ từ núi xuống, có đoàn dân đông đến đón rước Ngài.
38Te vaengah hlang pakhat te hlangping khui lamloh tarha pang tih, “Saya, kai ham tah khueh duen la a om dongah, ka capa te nan paelki ham kam bih.
38Một người trong đám đông kêu lên rằng: Lạy thầy, xin thầy đoái đến con trai tôi, vì là con một tôi.
39Anih te mueihla loh a tuuk tarha vaengah tah buengrhuet pang tih, tolhom neh suvaih. Anih te mat a ngawn a thaeh daengah a mael tak.
39Một quỉ ám nó, thình lình kêu la; quỉ vật vã nó dữ tợn, làm cho sôi bọt miếng, mình mẩy nát hết, rồi mới ra khỏi.
40Mueihla aka haek la na hnukbang rhoek te ka hloep dae coeng thai pawh,” a ti nah.
40Tôi đã xin môn đồ thầy đuổi quỉ đó, nhưng họ đuổi không được.
41Te dongah Jesuh loh a doo tih, “ Aka tangnahmueh neh pamdah cadil aw, nangmih taengah mevaeng hil nim ka om vetih nangmih te ka yaknaem ve? Na capa te he la han thak,” a ti nah.
41Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hỡi dòng dõi không tin và bội nghịch kia, ta ở với các ngươi và nhịn các ngươi cho đến chừng nào? Hãy đem con của ngươi lại đây.
42A taengla ham paan vaengah camoe te rhaithae loh a voeih dongah thuen pueng. Tedae Jesuh loh mueihla thae te a ho daengah, camoe te hoeih tih a napa taengla a mael.
42Đứa con trai vừa lại gần, quỉ xô nó nhào xuống đất, và vật vã dữ tợn. Song Đức Chúa Jêsus quở nặng tà ma, chữa lành con trẻ ấy, và giao lại cho cha nó.
43Te dongah Pathen kah a lennah soah boeih let uh tih, a hnukbang rhoek taengkah a thui neh a saii boeih soah boeih a ngaihmang uh.
43Ai nấy đều lấy làm lạ về quyền phép cao trọng của Đức Chúa Trời. Khi mọi người đang khen lạ các việc Đức Chúa Jêsus làm, Ngài phán cùng môn đồ rằng:
44Te vaengah, “He kah ol he na hna ah namamih loh dueh uh. Hlang capa tah hlang kut ah voeih ham cai coeng,” a ti nah.
44Về phần các ngươi, hãy nghe kỹ điều ta sẽ nói cùng: Con người sẽ bị nộp trong tay người ta.
45Tedae he olthui he a mangvawt uh. Te te a hmuhming pawt ham ni amih ham a phah la om coeng. Te dongah he olthui he amah dawt ham a rhih uh.
45Nhưng các môn đồ không hiểu lời ấy, vì đã che khuất cho mình để chẳng rõ nghĩa làm sao; và sợ không dám hỏi Ngài về lời ấy.
46Tedae amamih khuiah ulae tanglue la aka om eh tila amamih khuiah poeknah a kun pah.
46Các môn đồ biện luận cùng nhau cho biết ai là lớn hơn hết trong hàng mình.
47Jesuh loh amih thinko poeknah te a hmuh dongah camoe a loh tih amah taengah a pai sak.
47Nhưng Đức Chúa Jêsus biết ý tưởng trong lòng môn đồ, thì lấy một đứa con trẻ để gần mình,
48Te vaengah, “He camoe he ka ming neh aka doe long tah kai ni n'doe. Ka tueih aka doe long tah kai ni n'doe. Nangmih boeih lakli ah a diknoi la kho aka sa tah tanglue la om ni,” a ti nah.
48mà phán rằng: Hễ ai vì danh ta mà tiếp con trẻ nầy, tức là tiếp ta; còn ai tiếp ta, tức là tiếp Đấng đã sai ta. Vì kẻ nào hèn mọn hơn hết trong vòng các ngươi, ấy chính người đó là kẻ cao trọng.
49Johan loh a doo tih, “Boeipa, nang ming neh rhaithae aka haek hlang pakhat ka hmuh uh. Tedae mamih taengah a bang pawt dongah anih te ka paa sak uh,” a ti nah.
49Giăng cất tiếng nói rằng: Thưa thầy, chúng tôi từng thấy có kẻ nhân danh thầy mà trừ quỉ; chúng tôi đã cấm họ, vì không cùng chúng tôi theo thầy.
50Tedae anih te Jesuh loh, “ Paa sak uh boeh, nangmih kah a kingkalh la aka om pawt te tah nangmih ham ni a om,” a ti nah.
50Nhưng Đức Chúa Jêsus phán rằng: Đừng cấm họ, vì ai không nghịch cùng các ngươi, là thuận với các ngươi.
51A lueinah khohnin te a paan tom coeng dongah Jesuh tah Jerusalem la caeh ham a maelhmai a hooi.
51Khi gần đến k” Đức Chúa Jêsus được đem lên khỏi thế gian, Ngài quyết định đi thành Giê-ru-sa-lem.
52Te dongah puencawn rhoek te a hmai ah a tueih. Te vaengah cet uh tih Jesuh ham aka rhuengphong la Samaria kho khuila kun uh.
52Ngài sai kẻ đem tin đi trước mình. Họ ra đi, vào một làng của người Sa- ma-ri, để sửa soạn nhà trọ cho Ngài;
53Tedae Jerusalem la cet tih a maelhmai tueng ham a om dongah anih te doe uh pawh.
53song người Sa-ma-ri không tiếp rước Ngài, vì Ngài đi thẳng lên thành Giê- ru-sa-lem.
54A hnukbang James neh Johan loh a hmuh rhoi vaengah, “Boeipa, vaan lamkah hmai suntlak sak ham neh amih hlawp sak ham khue na ngaih a?” a ti nah rhoi.
54Gia-cơ và Giăng là môn đồ Ngài, thấy vậy, nói rằng: Thưa Chúa, Chúa có muốn chúng tôi khiến lửa từ trên trời xuống thiêu họ chăng?
55A mael thil tih amih rhoi te a ho.
55Nhưng Đức Chúa Jêsus xây lại quở hai người, mà rằng: Các ngươi không biết tâm thần nào xui giục mình.
56Te dongah kho tloe la vik cet uh.
56Rồi Ngài cùng môn đồ đi qua làng khác.
57Long ah a caeh uh vaengah hlang pakhat loh, “Mela na caeh akhaw nang kam vai ni,” a ti nah.
57Đang khi đi đường, có kẻ thưa Ngài rằng: Chúa đi đâu tôi sẽ theo đó.
58Te vaengah Jesuh loh anih te, “ Metang loh a khui, vaan kah vaa long khaw bu a khueh uh. Tedae hlang capa tah lu a tloeng nah khaw khueh pawh,” a ti nah.
58Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Con cáo có hang, chim trời có ổ; song Con người không có chỗ mà gối đầu.
59Te phoeiah a tloe taengah, “ Kai m'vai lah,” a ti nah. Tedae, te long te, “Boeipa, a pa up ham lamhma la kai n'caeh sak mai,” a ti nah.
59Ngài phán cùng kẻ khác rằng: Ngươi hãy theo ta. Kẻ ấy thưa rằng: Xin cho phép tôi đi chôn cha tôi trước đã.
60Tedae anih te, “ Aka duek rhoek up ham aka duek rhoek te hlah pah. Tedae nang tah cet lamtah Pathen kah ram te doek ngawn,” a ti nah.
60Nhưng Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết; còn ngươi, hãy đi rao giảng nước Đức Chúa Trời.
61Te phoeiah pakhat long khaw, “Nang kam vai van ni Boeipa, tedae kai tah ka im kah rhoek te lamhma la m'phih sak dae,” a ti nah.
61Có kẻ khác nữa thưa rằng: Lạy Chúa, tôi sẽ theo Chúa, song xin cho phép tôi trước về từ giã người trong nhà tôi.
62Tedae anih te Jesuh loh, “ Laithol cung te kut a tloeng thil tih a hnuk la aka dan pawt ni Pathen kah ram ham aka ting la a om,” a ti nah.
62Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ai đã tra tay cầm cày, còn ngó lại đằng sau, thì không xứng đáng với nước Đức Chúa Trời.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.