Luka
Chapter 22
Baibal Olcim (Matupi Chin)

Read in

Smith–Van Dyck Arabic Bible (فان دايك)Brezhoneg (Breton Gospels, 1827)Judson Burmese Bible (1840)Chamorro: Gospels, Acts and PsalmsChinese Union Version, punctuated (Simplified)Chinese Union Version, punctuated (Traditional)Coptic New TestamentCoptic New Testament (Bohairic)Kralice Bible (1613)Testamenta Marra (Dieri New Testament)Petrus Canisius Bible, 1939 (De Heilige Schrift)Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)Berean Standard BibleDouay-Rheims Bible, American Edition (1899)King James Version with ApocryphaWorld English BibleLondona Biblio (Esperanto, 1910)Louis Segond 1910Lutherbibel 1912Greek New Testament, word by word (STEPBible TAGNT)Greek New Testament: 1904 Patriarchal Text (Byzantine)Greek New Testament: Byzantine Text (Robinson–Pierpont 2018)Greek New Testament: Textus ReceptusSBL Greek New TestamentBaibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)Modern Hebrew BibleDiodati Bibbia 1885Freedom Bible (フリーダム・バイブル)Korean Bible, 1910 (한국어 성경)Bible Mutal (Kosraean)Clementine Vulgate, 1598Baibal Olcim (Matupi Chin)Meriam Mir GospelsOld Persian Version (ترجمه قدیم)Kadede Kap (Pohnpeian New Testament and Psalms)Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)Cornilescu Bible (1924), Cyrillic scriptSynodal Translation (Синодальный перевод)Daničić–Karadžić Bible (1868), CyrillicReina-Valera 1909Biblia Takatifu (Swahili): New Testament portionsFreedom Bible (Thai)Tongan Bible, Revised West VersionKulish and Puluj Bible (1905)Vietnamese Bible (1923 translation)
vs Vietnamese Bible (…

Compare with

Smith–Van Dyck Arabic Bible (فان دايك)Brezhoneg (Breton Gospels, 1827)Judson Burmese Bible (1840)Chamorro: Gospels, Acts and PsalmsChinese Union Version, punctuated (Simplified)Chinese Union Version, punctuated (Traditional)Coptic New TestamentCoptic New Testament (Bohairic)Kralice Bible (1613)Testamenta Marra (Dieri New Testament)Petrus Canisius Bible, 1939 (De Heilige Schrift)Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)Berean Standard BibleDouay-Rheims Bible, American Edition (1899)King James Version with ApocryphaWorld English BibleLondona Biblio (Esperanto, 1910)Louis Segond 1910Lutherbibel 1912Greek New Testament, word by word (STEPBible TAGNT)Greek New Testament: 1904 Patriarchal Text (Byzantine)Greek New Testament: Byzantine Text (Robinson–Pierpont 2018)Greek New Testament: Textus ReceptusSBL Greek New TestamentBaibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)Modern Hebrew BibleDiodati Bibbia 1885Freedom Bible (フリーダム・バイブル)Korean Bible, 1910 (한국어 성경)Bible Mutal (Kosraean)Clementine Vulgate, 1598Meriam Mir GospelsOld Persian Version (ترجمه قدیم)Kadede Kap (Pohnpeian New Testament and Psalms)Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)Cornilescu Bible (1924), Cyrillic scriptSynodal Translation (Синодальный перевод)Daničić–Karadžić Bible (1868), CyrillicReina-Valera 1909Biblia Takatifu (Swahili): New Testament portionsFreedom Bible (Thai)Tongan Bible, Revised West VersionKulish and Puluj Bible (1905)Vietnamese Bible (1923 translation)Stop comparing
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Luka 22

Baibal Olcim (Matupi Chin)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Yoom a ti uh vaidamding khotue tah yoei coeng.
1Ngày lễ ăn bánh không men tức là lễ Vượt Qua đến gần.
2Te vaengah khosoihham rhoek neh cadaek rhoek loh pilnam te loei a rhih uh dongah Jesuh metla ng'ngawn eh tila a mae uh.
2Các thầy tế lễ cả cùng các thầy thông giáo tìm phương đặng giết Đức Chúa Jêsus; vì họ sợ dân.
3Te vaengah Satan loh hlainit khuikah hlangmi pakhat la aka om Iskariot a ti uh Judas te a kun thil.
3Vả, quỉ Sa-tan ám vào Giu-đa, gọi là ỗch-ca-ri-ốt, là người trong số mười hai sứ đồ,
4Te dongah cet tih amih taengla Jesuh metla a voeih ham khaw khosoihham rhoek neh imtawt boei rhoek te a voek.
4nó đi kiếm các thầy tế lễ cả và các thầy đội, để đồng mưu dùng cách nào nộp Ngài cho họ.
5Te vaengah a uem uh tih anih te tangka paek ham a kotluep uh.
5Các người kia mừng lắm, hứa sẽ cho nó tiền bạc.
6Ko a tluep puei tih, amih hlangping kah mikvoelh ah Jesuh voeih ham a tuethen te a dawn.
6Nó đã ưng thuận với họ, bèn kiếm dịp tiện đặng nộp Đức Chúa Jêsus trong khi dân chúng không biết.
7Vaidamding khohnin tah a pha coeng. Te vaengah yoom te ngawn ham a kuek.
7Đến ngày lễ ăn bánh không men, là ngày người ta phải giết con sinh làm lễ Vượt Qua,
8Te dongah Peter neh Johan te a tueh tih, “ Cet rhoi lamtah mamih kah yoom n'caak ham te rhoekbah rhoi,” a ti nah.
8Đức Chúa Jêsus sai Phi-e-rơ và Giăng đi, mà phán rằng: Hãy đi dọn lễ Vượt Qua cho chúng ta ăn.
9Amih rhoi long khaw amah taengah, “Melam saii ham na ngaih?” a ti nah.
9Hai người thưa rằng: Thầy muốn chúng tôi dọn lễ ấy tại đâu?
10Jesuh loh amih rhoi te, “ Khopuei la na kun rhoi vaengah, tuitang dongah tui aka phuei hlang pakhat loh nangmih rhoi te n'doe ni. Anih loh a kun thil im duela anih te vai rhoi ne .
10Ngài đáp rằng: Khi các ngươi vào thành, sẽ gặp một người mang vò nước; hãy theo người vào nhà.
11Te phoeiah im kungmah te , ' Nang taengah saya loh , ' Yinpanah tah melam a om, te ah te ka hnukbang rhoek te Yoom ka caak puei mai eh ,’ a ti ,’ ti nah .
11và nói cùng chủ nhà rằng: Thầy phán cùng ngươi rằng: Phòng khách là chỗ ta sẽ ăn lễ Vượt Qua với môn đồ ta ở đâu?
12Anih loh imhman aka ka te a khoem tangtae la nangmih rhoi n'tueng bitni, te ah te rhoekbah rhoi,” a ti nah.
12Chủ nhà sẽ chỉ cho một cái phòng rộng và cao, đồ đạc sẵn sàng; các ngươi hãy dọn ở đó.
13A caeh rhoi vaengah a ti nah bangla a hmuh rhoi tih Yoom te a rhoekbah rhoi.
13Hai môn đồ đi, quả gặp những điều như Ngài đã phán, bèn dọn lễ Vượt Qua.
14A tue loh a pha vaengah, amah taengkah caeltueih rhoek te a ngol puei.
14Đến giờ, Ngài ngồi bàn ăn, các sứ đồ cùng ngồi với Ngài.
15Te phoeiah amih te, “ Ka patang hlanah nangmih neh Yoom caak ham he thincavat la ka hue .
15Ngài phán rằng: Ta rất muốn ăn lễ Vượt Qua nầy với các ngươi trước khi ta chịu đau đớn.
16Nangmih taengah kan thui, Pathen kah ram ah a soep hlan atah he he ka ca voel mahpawh,” a ti nah.
16Vì, ta nói cùng các ngươi, ta sẽ không ăn lễ nầy nữa cho đến khi lễ ấy được trọn trong nước Đức Chúa Trời.
17Boengloeng te a loh tih a uem phoeiah, “ He he lo uh lamtah namamih te tael uh thae .
17Ngài bèn cầm chén, tạ ơn, rồi phán rằng: Hãy lấy cái nầy phân phát cho nhau.
18Nangmih taengah ka thui, tahae lamloh Pathen ram a pai hlan khuiah misur thaih te ka o voel mahpawh,” a ti nah.
18Vì, ta nói cùng các ngươi, từ nay ta sẽ không uống trái nho nữa, cho tới khi nước Đức Chúa Trời đến rồi.
19Vaidam te a loh tih a uem phoeiah a aeh tih amih te a paek. Te vaengah, “He tah nangmih hamla ka paek ka pum ni. Kai poekkoepnah neh he he saii uh,” a ti nah.
19Đoạn, Ngài cầm lấy bánh, tạ ơn xong, bẻ ra phân phát cho môn đồ, mà phán rằng: Nầy là thân thể ta, đã vì các ngươi mà phó cho; hãy làm sự nầy để nhớ đến ta.
20Te vanbangla boengloeng te khaw a vael uh tih, “ He boengloeng tah ka thii dongkah paipi thai ni, te tah nangmih ham long coeng .
20Khi ăn xong, Ngài cũng làm như vậy, lấy chén đưa cho môn đồ, mà phán rằng: Chén nầy là giao ước mới trong huyết ta vì các ngươi mà đổ ra.
21Tedae caboei dongah kamah aka om puei kah a kut loh kamah m'voeih coeng he .
21Vả lại, nầy, bàn tay kẻ phản ta ở gần ta, nơi bàn nầy.
22Hlang Capa tah a hmoel tangtae bangla cet pai dae, anih dongah hlang aka voei hlang te tah anunae,” a ti.
22Con người đi, theo như điều đã chỉ định; nhưng khốn cho người nầy phản Ngài!
23Te dongah te bang saii hamla aka caii te amih lakli ah u lam nim a pawk ve tila amamih khuiah koe oelh uh thae.
23Môn đồ bèn hỏi nhau trong bọn mình ai là người sẽ làm điều đó.
24Te vaengah amih khuiah tanglue la om ham aka koih te unim tila, amamih khuiah tuituknah khaw om.
24Môn đồ lại cãi lẫy nhau, cho biết ai sẽ được tôn là lớn hơn hết trong đám mình.
25Tedae amih taengah Jesuh loh, “ Namtom manghai rhoek loh amih a tulnoi uh tih a buem rhapsat te hlangrhoei rhoek la a khue uh .
25Nhưng Ngài phán cùng môn đồ rằng: Các vua của các dân ngoại lấy phép riêng mình mà cai trị, những người cầm quyền cai trị được xưng là người làm ơn.
26Tedae nangmih tah te tlam moenih, nangmih khuiah aka tanglue loh a noe bangla om saeh, hlang aka mawt long khaw aka thotat la om saeh .
26Về phần các ngươi, đừng làm như vậy; song ai lớn hơn trong các ngươi phải như kẻ rất nhỏ, và ai cai trị phải như kẻ hầu việc.
27Te dongah aka vael neh aka thothat khuiah ulae aka tanglue? Aka vael te moenih a? Tedae kai tah nangmih lakli ah aka thotat lam ni ka om .
27Vì một người ngồi ăn với một người hầu việc, ai là lớn hơn? Có phải là kẻ ngồi ăn không? Nhưng ta ở giữa các ngươi như kẻ hầu việc vậy.
28Nangmih tah kai kah cuekhalhnah khuikah he kai neh aka tukkai la na om uh .
28Còn như các ngươi, đã bền lòng theo ta trong mọi sự thử thách ta,
29Ram te a pa loh kai taengah a hal bangla nangmih taengah kai loh kang hal coeng .
29nên ta ban nước cho các ngươi, cũng như Cha ta đã ban cho ta vậy,
30Te daengah ni ka ram kah ka caboei dongah na caak na ok uh eh. Te vaengah Israel kah lai aka tloek koca hlainit te ngolkhoel soah na ngol thil uh ni .
30để các ngươi được ăn uống chung bàn trong nước ta, và được ngồi ngai để xét đoán mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên.
31Simon, Simon, Satan loh cang bangla hlaih ham nangmih n'laem coeng te .
31Hỡi Si-môn, Si-môn, nầy quỉ Sa-tan đã đòi sàng sảy ngươi như lúa mì.
32Kai tah nang kah tangnah te a muei pawt ham ni nang ham ka thangthui. Tedae na bal vaengah na manuca rhoek te duel nawn,” a ti nah.
32Song ta đã cầu nguyện cho ngươi, hầu cho đức tin ngươi không thiếu thốn. Vậy, đến khi ngươi đã hối cải, hãy làm cho vững chí anh em mình.
33Tedae Simon loh, “Boeipa, namah nen tah thongim neh duek paan ham khaw sikim la ka om ngawn ,” a ti nah.
33Phi-e-rơ thưa rằng: Thưa Chúa, tôi sẵn lòng đi theo Chúa, đồng tù đồng chết.
34Jesuh loh, “Peter, namah taengah kan thui, kai hmat hamla voeithum na huek uh hlan atah tihnin ah ai khong mahpawh,” a ti nah.
34Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hỡi Phi-e-rơ, ta nói cùng ngươi, hôm nay khi gà chưa gáy, ngươi sẽ ba lần chối không biết ta.
35Te phoeiah amih te, Sungsa neh khokhom khuen kolla nangmih kan tueih vaengah pakhat khaw na hlavawt uh pawt nim?,” a ti nah. Te vaengah amih loh,” Om pawh,” a ti uh.
35Đoạn, Ngài lại phán rằng: Khi ta đã sai các ngươi đi, không đem túi, bao, giày chi hết, các ngươi có thiếu gì không? Môn đồ thưa rằng: Không thiếu chi hết.
36Te phoeiah amih te, “Tedae tahae atah, sungkoi aka khueh loh khuen saeh, sungsa khaw khuen saeh. Aka khueh pawt loh a himbai te yoi saeh lamtah cunghang lai saeh .
36Ngài phán rằng: Nhưng bây giờ, ai có túi bạc, hãy lấy đi, ai có bao, cũng vậy; ai không có gươm, hãy bán áo ngoài đi mà mua.
37Nangmih ham kan thui, a daek tangtae te kai soah a soep ham a kuek . ' Anih te lailak rhoek neh a tae thil,’ a ti, kai kawng loh hmakhah a pha,” a ti nah.
37Vì ta rao cho các ngươi, có lời chép rằng: Ngài đã bị kể vào hàng kẻ dữ. Lời ấy phải ứng nghiệm về chính mình ta. Thật vậy, sự đã chỉ về ta hầu được trọn.
38Te vaengah amih loh, “Boeipa, cunghang yungnit om he,” a ti na uh. Te dongah Jesuh loh amih te, “ Rhoeh coeng te ,” a ti nah.
38Các sứ đồ thưa rằng: Thưa Chúa, có hai thanh gươm đây. Ngài phán rằng: Aáy là đủ.
39A khosing vanbangla cet tih Olive tlang te a paan. Te vaengah hnukbang rhoek long khaw anih te a vai uh.
39Đoạn, Đức Chúa Jêsus ra đi, lên núi Ô-li-ve theo như thói quen; các môn đồ cùng đi theo Ngài.
40A hmuen a pha vaengah amih te, “Cuekhalhnah khuiah kun pawt ham thangthui uh,” a ti nah.
40Khi đã đến nơi đó, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Hãy cầu nguyện, hầu cho các ngươi khỏi sa vào sự cám dỗ.
41Te phoeiah Jesuh tah amih taeng lamloh lungto dongat tluk ah khoe uh tih, khuklu cungkueng neh thangthui.
41Ngài bèn đi khỏi các môn đồ, cách chừng liệng một cục đá, quì xuống mà cầu nguyện
42Te vaengah, “A pa, na ngaih atah boengloeng he, kai taeng lamkah loh khoe mai. Tedae kai kongaih boel saeh lamtah namah kongaih la om saeh,” a ti.
42rằng: Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén nầy khỏi tôi! Dầu vậy, xin ý Cha được nên, chớ không theo ý tôi!
43Te vaengah vaan lamkah puencawn te a taengah phoe tih anih te thaa a cong pah.
43Có một thiên sứ từ trên trời hiện xuống cùng Ngài, mà thêm sức cho Ngài.
44A thangthui te khaw thingthuelnah la mat a om pah. A hlantui khaw a thii cip bangla a om pah tih diklai la a bo pah.
44Trong cơn rất đau thương, Ngài cầu nguyện càng thiết, mồ hôi trở nên như giọt máu lớn rơi xuống đất.
45Thangthuinah lamloh thoo tih hnukbang rhoek taengla a pawk vaengah a kothaenah lamloh a ih uh te a hmuh.
45Cầu nguyện xong, Ngài đứng dậy trở lại cùng các môn đồ, thấy đang ngủ mê vì buồn rầu.
46Te dongah amih te, “Balae tih, na ih uh? Thoo uh lamtah thangthui uh, te daengah ni cuekhalhnah khuila na kun uh pawt eh? ,” a ti nah.
46Ngài phán rằng: Sao các ngươi ngủ? Hãy đứng dậy cầu nguyện, để cho khỏi sa vào sự cám dỗ.
47A thui vaengah hlangping tarha ha pawk. Te vaengah hlainit khuikah pakhat Judas a ti long te amih hmaiah a lamhma pah tih Jesuh te mok hamla a paan.
47Khi Ngài còn đang phán, một lũ đông kéo đến. Tên Giu-đa, một trong mười hai sứ đồ, đi trước hết, lại gần Đức Chúa Jêsus đặng hôn Ngài.
48Tedae Jesuh loh amah te, “ Judas, moknah mai neh hlang capa te na voeih nama? ” a ti nah.
48Đức Chúa Jêsus hỏi rằng: Hỡi Giu-đa, ngươi lấy cái hôn để phản Con người sao?
49A taengkah rhoek loh a hmuh uh vaengah aka om ham te, “Boeipa, cunghang neh ka boeng uh koinih ta,” a ti nauh.
49Những người ở với Ngài thấy sự sắp xảy đến, bèn nói rằng: Thưa Chúa, chúng tôi nên dùng gươm đánh chăng:
50Te dongah amih khuikah pakhat loh khosoihham kah sal te a boeng tih a bantang hna a pat pah.
50Một người trong các sứ đồ đánh đầy tớ của thầy cả thượng phẩm và chém đứt tai bên hữu.
51Tedae Jesuh loh a doo tih, “ Te te hlah laeh,” a ti nah. Te phoeiah a hna te a taek pah tih a hoeih sak.
51Nhưng Đức Chúa Jêsus cất tiếng phán rằng: Hãy để cho họ đến thế! Ngài bèn rờ tai đầy tớ ấy, làm cho nó được lành.
52Te phoeiah Jesuh loh amah taengla aka pawk khosoihham rhoek neh bawkim kah imtawt boei rhoek, patong rhoek taengah, “ Dingca a, cunghang neh thingboeng neh na caeh thil uh .
52Đoạn, Đức Chúa Jêsus phán cùng các thầy tế lễ cả, các thầy đội coi đền thờ, và các trưởng lão đã đến bắt Ngài, rằng: Các ngươi cầm gươm và gậy đến bắt ta như bắt kẻ trộm cướp.
53Hnin takuem bawkim khuiah nangmih taengah ka om tih, kai soah kut na thueng uh moenih. Tedae tahae tue neh yinnah kah saithainah tah nangmih ah om,” a ti nah.
53Hằng ngày ta ở trong đền thờ với các ngươi, mà các ngươi không ra tay bắt ta. Nhưng nầy là giờ của các người, và quyền của sự tối tăm vậy.
54Jesuh te a tuuk uh phoeiah a mawt uh tih khosoihham im khuila a khuen uh. Tedae Peter long tah soeisoei a vai.
54Bấy giờ họ bắt Đức Chúa Jêsus đem đi, giải Ngài đến nhà thầy cả thượng phẩm. Phi-e-rơ đi theo Ngài xa xa.
55Te vaengah imtol kah a laklung ah hmai a toih uh tih a ngoltun uh hatah Peter khaw amih lakli ah ngol van.
55Họ nhúm lửa giữa sân, rồi ngồi với nhau; Phi-e-rơ cũng ngồi giữa đám họ.
56Tedae hmaivang ah aka ngol salnu pakhat loh anih a hmuh vaengah a hmaitang tih, “He khaw he anih taengah om,” a ti nah.
56Một con đòi kia thấy Phi-e-rơ ngồi gần lửa, thì ngó chăm chỉ, mà nói rằng: Người nầy vốn cũng ở với người ấy.
57Tedae Peter loh basa tih, “Anih, ka ming moenih, huta,” a ti nah.
57Song Phi-e-rơ chối Đức Chúa Jêsus, nói rằng: Hỡi đàn bà kia, ta không biết người đó.
58Rhaih a om phoeiah pakhat loh anih te hmuh tih, “Nang khaw amih taengah na om van,” a ti nah. Tedae Peter loh, “Hlang khaw he, kai ka om moenih,” a ti nah.
58Một lát, có người khác thấy Phi-e-rơ, nói rằng: Ngươi cũng thuộc về bọn đó! Phi-e-rơ đáp rằng: Hỡi người, ta không phải thuộc về bọn đó đâu.
59Khonoek pakhat tluk a koe phoeiah a tloe pakhat loh, “Oltak ni, he khaw anih taengah om ta, amah khaw Galilee hlang ni, “rhap a ti nah.
59Độ cách một giờ, có kẻ khác đề quyết như vậy mà rằng: Thật người nầy cũng ở với Jêsus, vì người là dân Ga-li-lê.
60Tedae Peter loh, “Hlang khaw he, banim na thui ka ming moenih,” a ti nah. Te tlam te a thui li vaengah ai pahoi khong.
60Nhưng Phi-e-rơ cãi rằng: Hỡi người, ta không biết ngươi nói chi! Đang lúc Phi-e-rơ còn nói, thì gà liền gáy;
61Te vaengah Peter te Boeipa loh a mael thil tih a sawt. Te daengah, ' Tihnin kah ai a khong hlanah kai voeithum nan huek uh tak ni,” a ti nah vaengkah Boeipa ol te Peter loh a thoelh.
61Chúa xây mặt lại ngó Phi-e-rơ. Phi-e-rơ nhớ lại lời Chúa đã phán cùng mình rằng: Hôm nay trước khi gà chưa gáy, ngươi sẽ chối ta ba lần;
62Te dongah phawn cet tih hlawk hlawk rhap.
62rồi đi ra ngoài, khóc lóc thảm thiết.
63Jesuh te hlang rhoek loh a et uh phoeiah a tamdaeng uh tih a boh uh.
63Vả, những kẻ canh Đức Chúa Jêsus nhạo báng và đánh Ngài;
64Amah te a khuk uh tih a dawt uh vaengah, “Nang aka bael te unim phong lah,” a ti nauh.
64che mặt Ngài lại rồi nói rằng: Hãy nói tiên tri đi, hãy đoán xem ai đánh ngươi!
65A tloe nen khaw muep a salpham uh tih anih te a voek uh.
65Họ lại nhiếc móc Ngài nhiều lời khác nữa.
66Khothaih a pha vaengah pilnam kah kangham rhoek, khosoihham rhoek neh cadaek rhoek te tingtun uh. Te phoeiah Jesuh te amamih kah khoboei taengla a khuen uh.
66Đến sáng ngày, các trưởng lão trong dân, các thầy tế lễ cả, và các thầy thông giáo nhóm lại, rồi sai đem Đức Chúa Jêsus đến nơi tòa công luận.
67Te vaengah, “Khrih la na om atah kaimih taengah thui laeh,” a ti na uh. Tedae amih te, “Nangmih taengah kan thui cakhaw na tangnah uh loengloeng mahpawh .
67Họ hỏi Ngài rằng: Nếu ngươi phải là Đấng Christ, hãy xưng ra cho chúng ta. Ngài đáp rằng: Nếu ta nói, thì các ngươi không tin;
68Kan dawt bal cakhaw nan doo uh loengloeng mahpawh .
68nếu ta tra gạn các ngươi, thì các ngươi không trả lời.
69Tahae lamkah hlang capa tah Pathen kah thaomnah bantang ah aka ngol la om pueng ni,” a ti nah.
69Nhưng từ nay về sau, Con người sẽ ngồi bên hữu quyền phép Đức Chúa Trời.
70Tedae hlang boeih loh, “Nang tah Pathen capa la na om van a?” a ti na uh. Te dongah Jesuh loh amih te, “ Ka om te na thui uh coeng,” a ti nah.
70ai nấy đều hỏi rằng: Vậy, ngươi là Con Đức Chúa Trời sao? Ngài đáp rằng: Chính các ngươi nói ta là Con Ngài.
71Te vaengah amih loh, “Laipai a ngoe pueng a te? A ka lamkah te mamih loh n'yaak uh coeng, ” a ti uh.
71Họ bèn nói rằng: Chúng ta nào có cần chứng cớ nữa làm chi? Chính chúng ta đã nghe từ miệng nó nói ra rồi.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.