Luka
Chapter 22
Asang Khongca Bible (Eas…

Read in

Smith–Van Dyck Arabic Bible (فان دايك)Brezhoneg (Breton Gospels, 1827)Judson Burmese Bible (1840)Chamorro: Gospels, Acts and PsalmsChinese Union Version, punctuated (Simplified)Chinese Union Version, punctuated (Traditional)Coptic New TestamentCoptic New Testament (Bohairic)Kralice Bible (1613)Testamenta Marra (Dieri New Testament)Petrus Canisius Bible, 1939 (De Heilige Schrift)Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)Berean Standard BibleDouay-Rheims Bible, American Edition (1899)King James Version with ApocryphaWorld English BibleLondona Biblio (Esperanto, 1910)Louis Segond 1910Lutherbibel 1912Greek New Testament, word by word (STEPBible TAGNT)Greek New Testament: 1904 Patriarchal Text (Byzantine)Greek New Testament: Byzantine Text (Robinson–Pierpont 2018)Greek New Testament: Textus ReceptusSBL Greek New TestamentBaibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)Modern Hebrew BibleDiodati Bibbia 1885Freedom Bible (フリーダム・バイブル)Korean Bible, 1910 (한국어 성경)Bible Mutal (Kosraean)Clementine Vulgate, 1598Baibal Olcim (Matupi Chin)Meriam Mir GospelsOld Persian Version (ترجمه قدیم)Kadede Kap (Pohnpeian New Testament and Psalms)Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)Cornilescu Bible (1924), Cyrillic scriptSynodal Translation (Синодальный перевод)Daničić–Karadžić Bible (1868), CyrillicReina-Valera 1909Biblia Takatifu (Swahili): New Testament portionsFreedom Bible (Thai)Tongan Bible, Revised West VersionKulish and Puluj Bible (1905)Vietnamese Bible (1923 translation)
vs Vietnamese Bible (…

Compare with

Smith–Van Dyck Arabic Bible (فان دايك)Brezhoneg (Breton Gospels, 1827)Judson Burmese Bible (1840)Chamorro: Gospels, Acts and PsalmsChinese Union Version, punctuated (Simplified)Chinese Union Version, punctuated (Traditional)Coptic New TestamentCoptic New Testament (Bohairic)Kralice Bible (1613)Testamenta Marra (Dieri New Testament)Petrus Canisius Bible, 1939 (De Heilige Schrift)Berean Standard BibleDouay-Rheims Bible, American Edition (1899)King James Version with ApocryphaWorld English BibleLondona Biblio (Esperanto, 1910)Louis Segond 1910Lutherbibel 1912Greek New Testament, word by word (STEPBible TAGNT)Greek New Testament: 1904 Patriarchal Text (Byzantine)Greek New Testament: Byzantine Text (Robinson–Pierpont 2018)Greek New Testament: Textus ReceptusSBL Greek New TestamentBaibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)Modern Hebrew BibleDiodati Bibbia 1885Freedom Bible (フリーダム・バイブル)Korean Bible, 1910 (한국어 성경)Bible Mutal (Kosraean)Clementine Vulgate, 1598Baibal Olcim (Matupi Chin)Meriam Mir GospelsOld Persian Version (ترجمه قدیم)Kadede Kap (Pohnpeian New Testament and Psalms)Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)Cornilescu Bible (1924), Cyrillic scriptSynodal Translation (Синодальный перевод)Daničić–Karadžić Bible (1868), CyrillicReina-Valera 1909Biblia Takatifu (Swahili): New Testament portionsFreedom Bible (Thai)Tongan Bible, Revised West VersionKulish and Puluj Bible (1905)Vietnamese Bible (1923 translation)Stop comparing
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Misong loih angmathaih poih, tiah kawk ih, taeh thuh ai ih takaw caakhaih poih loe zoi boeh.
1Ngày lễ ăn bánh không men tức là lễ Vượt Qua đến gần.
2Kalen koek qaima hoi ca tarik kaminawk mah kaminawk zit o pongah, anih hum thaihaih loklam to pakrong o.
2Các thầy tế lễ cả cùng các thầy thông giáo tìm phương đặng giết Đức Chúa Jêsus; vì họ sợ dân.
3To naah kami hatlai hnetto thungah kathum Iskariot, tiah ahmin kaom Judah ih palung thungah Setan akunh.
3Vả, quỉ Sa-tan ám vào Giu-đa, gọi là ỗch-ca-ri-ốt, là người trong số mười hai sứ đồ,
4Juda loe kalen koek qaima hoi tempul ukkung angraengnawk khaeah caeh moe, nihcae khaeah Jesu angphat taakhaih loklam to a dueng.
4nó đi kiếm các thầy tế lễ cả và các thầy đội, để đồng mưu dùng cách nào nộp Ngài cho họ.
5Nihcae loe poeknawm o moe, anih to phoisa paek hanah palungdue o.
5Các người kia mừng lắm, hứa sẽ cho nó tiền bạc.
6Nihcae khaeah lokkamhaih sak pacoengah, paroeai kaminawk om ai naah, nihcae khaeah Jesu paek thaihaih loklam to pakrong.
6Nó đã ưng thuận với họ, bèn kiếm dịp tiện đặng nộp Đức Chúa Jêsus trong khi dân chúng không biết.
7Taeh thuh ai ih takaw caakhaih poih phak naah loe, tuucaa to boh han angaih.
7Đến ngày lễ ăn bánh không men, là ngày người ta phải giết con sinh làm lễ Vượt Qua,
8To naah anih mah Piter hoi Johan khaeah, Caeh hoih loe, a caak o hanah, misong loih angmathaih poih to sah hoih, tiah a naa.
8Đức Chúa Jêsus sai Phi-e-rơ và Giăng đi, mà phán rằng: Hãy đi dọn lễ Vượt Qua cho chúng ta ăn.
9Nihnik mah anih khaeah, Naa ah maw saksak han na koeh? tiah a dueng hoi.
9Hai người thưa rằng: Thầy muốn chúng tôi dọn lễ ấy tại đâu?
10Anih mah nihnik khaeah, Khenah, vangpui thung na kun hoi naah, tuidok hanah tuidue kasin kami maeto na hnu hoi tih; anih akunhaih im ah caeh hoih.
10Ngài đáp rằng: Khi các ngươi vào thành, sẽ gặp một người mang vò nước; hãy theo người vào nhà.
11Im tawnkung khaeah, Patukkung mah, ka hnukbang kaminawk hoi misong loihaih poih sak hanah ahmuen naa ah maw oh? tiah ang duengsak, tiah thui paeh.
11và nói cùng chủ nhà rằng: Thầy phán cùng ngươi rằng: Phòng khách là chỗ ta sẽ ăn lễ Vượt Qua với môn đồ ta ở đâu?
12To naah anih mah pathoep tangcae, kalen parai im ranui asom to na patuek tih, to ah duembuh caakhaih poih to sah hoih, tiah a naa.
12Chủ nhà sẽ chỉ cho một cái phòng rộng và cao, đồ đạc sẵn sàng; các ngươi hãy dọn ở đó.
13Nihnik caeh hoi naah, anih mah thuih ih lok baktih toengah a hnuk hoi: to ah misong loihaih poih to a sak hoi.
13Hai môn đồ đi, quả gặp những điều như Ngài đã phán, bèn dọn lễ Vượt Qua.
14Atue phak naah anih loe, a hnukbang kaminawk hoi nawnto buhcaak hanah anghnut.
14Đến giờ, Ngài ngồi bàn ăn, các sứ đồ cùng ngồi với Ngài.
15Anih mah nihcae khaeah, Patang ka khang ai naah hae taeh thuh ai ih takaw hae nangcae hoi nawnto caak han ka koeh.
15Ngài phán rằng: Ta rất muốn ăn lễ Vượt Qua nầy với các ngươi trước khi ta chịu đau đớn.
16Kang thuih o, Sithaw prae ah akoephaih om ai karoek to, hae buh hae ka caa mak ai boeh, tiah a naa.
16Vì, ta nói cùng các ngươi, ta sẽ không ăn lễ nầy nữa cho đến khi lễ ấy được trọn trong nước Đức Chúa Trời.
17Anih mah boengloeng to lak moe, oephaih lawk a thuih, Hae hae la oh loe, amzet oh:
17Ngài bèn cầm chén, tạ ơn, rồi phán rằng: Hãy lấy cái nầy phân phát cho nhau.
18kang thuih o, Sithaw mah siangpahrang ah ukhaih prae angzo ai karoek to, misurtui ka nae mak ai boeh, tiah a naa.
18Vì, ta nói cùng các ngươi, từ nay ta sẽ không uống trái nho nữa, cho tới khi nước Đức Chúa Trời đến rồi.
19Takaw to a lak, oephaih lawkthuih pacoengah, a aeh moe, nihcae khaeah paek, Hae loe nangcae han paek ih ka takpum ah oh: kai nang panoek o poe hanah hae tiah sah oh, tiah a naa.
19Đoạn, Ngài cầm lấy bánh, tạ ơn xong, bẻ ra phân phát cho môn đồ, mà phán rằng: Nầy là thân thể ta, đã vì các ngươi mà phó cho; hãy làm sự nầy để nhớ đến ta.
20To baktih toengah takaw a caak o pacoengah, Boengloeng to a lak moe, Hae boengloeng loe nangcae han kalong, ka thii hoiah sak ih lokkamhaih kangtha ah oh.
20Khi ăn xong, Ngài cũng làm như vậy, lấy chén đưa cho môn đồ, mà phán rằng: Chén nầy là giao ước mới trong huyết ta vì các ngươi mà đổ ra.
21Toe khenah, kai angphat taak han kami ih ban loe kai hoi nawnto caboi nuiah oh.
21Vả lại, nầy, bàn tay kẻ phản ta ở gần ta, nơi bàn nầy.
22Kami Capa loe lok khaeh tangcae baktih toengah ni caeh tih: toe anih angphat taak kami loe khosak bing! tiah a naa.
22Con người đi, theo như điều đã chỉ định; nhưng khốn cho người nầy phản Ngài!
23Mi mah maw hae baktih hmuen hae sah tih, tiah maeto hoi maeto ang dueng o.
23Môn đồ bèn hỏi nhau trong bọn mình ai là người sẽ làm điều đó.
24Mi maw kalen koekah om tih, tiah maeto hoi maeto lok angaekhaih doeh angmacae thungah oh.
24Môn đồ lại cãi lẫy nhau, cho biết ai sẽ được tôn là lớn hơn hết trong đám mình.
25Anih mah nihcae khaeah, Gentel siangpahrangnawk loe kaminawk nuiah ukhaih akaa to tawnh o; kaminawk nuiah akaa tawn kaminawk to khenzawnkung, tiah kawk o.
25Nhưng Ngài phán cùng môn đồ rằng: Các vua của các dân ngoại lấy phép riêng mình mà cai trị, những người cầm quyền cai trị được xưng là người làm ơn.
26Toe nangcae loe to tiah om o hmah: nangcae thung ih kalen koek loe kanawk kue baktiah om nasoe; kalen koek loe toksahkung ah om nasoe.
26Về phần các ngươi, đừng làm như vậy; song ai lớn hơn trong các ngươi phải như kẻ rất nhỏ, và ai cai trị phải như kẻ hầu việc.
27Buhcaak han anghnu kami maw kalen kue, to tih ai boeh loe buh paek kami? Buhcaak han anghnu kami to len kue na ai maw? Toe kai loe nangcae thungah buh paek kami ah ni ka oh.
27Vì một người ngồi ăn với một người hầu việc, ai là lớn hơn? Có phải là kẻ ngồi ăn không? Nhưng ta ở giữa các ngươi như kẻ hầu việc vậy.
28Pacuekhaih ka tongh naah, nangcae loe ka taengah om poe kami ah na oh o.
28Còn như các ngươi, đã bền lòng theo ta trong mọi sự thử thách ta,
29Siangpahrang ah Ka ukhaih prae caboi pongah buh na caak o moe, na naek o pacoengah, angraeng tangkhang nuiah anghnut moe, Israel acaeng hatlai hnettonawk lok na caek o thai hanah; Pa mah siangpahrang ah ukhaih prae maeto ang paek baktih toengah, nangcae han doeh ukhaih prae maeto kang paek o.
29nên ta ban nước cho các ngươi, cũng như Cha ta đã ban cho ta vậy,
no verse 30 in this text
30để các ngươi được ăn uống chung bàn trong nước ta, và được ngồi ngai để xét đoán mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên.
31Angraeng mah, Simon, Simon, khenah, Nang loe Setan mah cang paset baktiah paset hanah koeh:
31Hỡi Si-môn, Si-môn, nầy quỉ Sa-tan đã đòi sàng sảy ngươi như lúa mì.
32toe na tanghaih amtimh han ai ah lawk kang thuih pae: nam laem let naah, nam nawkamyanawk to thapaek ah, tiah a naa.
32Song ta đã cầu nguyện cho ngươi, hầu cho đức tin ngươi không thiếu thốn. Vậy, đến khi ngươi đã hối cải, hãy làm cho vững chí anh em mình.
33Toe anih mah Jesu khaeah, Angraeng, thongkrak moe, duek han om cadoeh, nang hoi nawnto caeh hanah kam sakcoek boeh, tiah a naa.
33Phi-e-rơ thưa rằng: Thưa Chúa, tôi sẵn lòng đi theo Chúa, đồng tù đồng chết.
34Anih mah, Piter, kang thuih, vaihni aakhong ai naah, kang panoek ai, tiah vai thumto kai nang phat taak tih, tiah a naa.
34Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hỡi Phi-e-rơ, ta nói cùng ngươi, hôm nay khi gà chưa gáy, ngươi sẽ ba lần chối không biết ta.
35Anih mah nihcae khaeah, phoisa bawm, pasah hoi khokpanai sin ai ah kang patoeh o naah, kavawt kami na oh o maw? tiah a naa. To naah nihcae mah, Om ai tiah, a naa o.
35Đoạn, Ngài lại phán rằng: Khi ta đã sai các ngươi đi, không đem túi, bao, giày chi hết, các ngươi có thiếu gì không? Môn đồ thưa rằng: Không thiếu chi hết.
36Anih mah nihcae khaeah, Toe vaihi loe phoisa bawm tawn kami mah phoisa bawm to sin nasoe, to tiah pasah tawn kami mah doeh, pasah to sin nasoe: sumsen tawn ai kami loe a khukbuen to zaw nasoe loe, qan nasoe.
36Ngài phán rằng: Nhưng bây giờ, ai có túi bạc, hãy lấy đi, ai có bao, cũng vậy; ai không có gươm, hãy bán áo ngoài đi mà mua.
37Kang thuih o, Anih loe kazae kaminawk hoi kroek o hmaek, tiah tarik ih lok to ka nuiah akoep han oh: kai kawng tarik ih hmuen loe boeng boeh, tiah a naa.
37Vì ta rao cho các ngươi, có lời chép rằng: Ngài đã bị kể vào hàng kẻ dữ. Lời ấy phải ứng nghiệm về chính mình ta. Thật vậy, sự đã chỉ về ta hầu được trọn.
38A hnukbang kaminawk mah, khenah, Angraeng, haeah sumsen hnetto oh, tiah a naa o. Anih mah nihcae khaeah, Khawt boeh, tiah a naa.
38Các sứ đồ thưa rằng: Thưa Chúa, có hai thanh gươm đây. Ngài phán rằng: Aáy là đủ.
39A caehzong baktih toengah, anih loe Olive mae ah caeh; a hnukbang kaminawk doeh anih hnukah bang o toeng.
39Đoạn, Đức Chúa Jêsus ra đi, lên núi Ô-li-ve theo như thói quen; các môn đồ cùng đi theo Ngài.
40To ahmuen to a phak o naah, anih mah nihcae khaeah, Pacuekhaih thungah na kun o han ai ah lawkthui oh, tiah a naa.
40Khi đã đến nơi đó, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Hãy cầu nguyện, hầu cho các ngươi khỏi sa vào sự cám dỗ.
41Anih loe thlung hoi vah moe, phak ih ahmuen setto kangthla ah caeh moe, khokkhu cang krawn hoiah lawkthuih,
41Ngài bèn đi khỏi các môn đồ, cách chừng liệng một cục đá, quì xuống mà cầu nguyện
42Pa, na koeh nahaeloe, hae boengloeng hae kai khae hoiah takhoe ving ah: toe ka koehhaih baktih na ai ah, na koehhaih baktiah om nasoe, tiah a naa.
42rằng: Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén nầy khỏi tôi! Dầu vậy, xin ý Cha được nên, chớ không theo ý tôi!
43To naah van hoiah van kami maeto anih khaeah amtueng pae moe, Anih to thapaek.
43Có một thiên sứ từ trên trời hiện xuống cùng Ngài, mà thêm sức cho Ngài.
44Anih loe paroeai kana pauephaih hoiah oh moe, palungthin tang hoi lawk a thuih: to pacoengah anih ih angsatui loe athii baktiah long ah ca.
44Trong cơn rất đau thương, Ngài cầu nguyện càng thiết, mồ hôi trở nên như giọt máu lớn rơi xuống đất.
45Lawk a thuih pacoengah angthawk moe, a hnukbang kaminawk khaeah caeh, to naah palungset hoiah ka-iip nihcae to a hnuk,
45Cầu nguyện xong, Ngài đứng dậy trở lại cùng các môn đồ, thấy đang ngủ mê vì buồn rầu.
46Anih mah nihcae khaeah, Tikhoe na iih o loe? Angthawk oh loe, lawkthui oh, to tih ai nahaeloe pacuekhaih thungah na kun o moeng tih, tiah a naa.
46Ngài phán rằng: Sao các ngươi ngủ? Hãy đứng dậy cầu nguyện, để cho khỏi sa vào sự cám dỗ.
47Lawk a thuih li naah, khenah, paroeai kaminawk angzoh o, kami hatlai hnetto thungah Judah, tiah kawk ih kami loe nihcae hma ah caeh moe, Jesu to mok hanah a taengah anghnaih.
47Khi Ngài còn đang phán, một lũ đông kéo đến. Tên Giu-đa, một trong mười hai sứ đồ, đi trước hết, lại gần Đức Chúa Jêsus đặng hôn Ngài.
48Toe Jesu mah anih khaeah, Judah, mokhaih hoiah maw Kami Capa to nang phat taak? tiah a naa.
48Đức Chúa Jêsus hỏi rằng: Hỡi Giu-đa, ngươi lấy cái hôn để phản Con người sao?
49A taengah kaom kaminawk mah hnuk o naah, anih khaeah, Angraeng, sumsen hoi takroek o si maw? tiah a naa o.
49Những người ở với Ngài thấy sự sắp xảy đến, bèn nói rằng: Thưa Chúa, chúng tôi nên dùng gươm đánh chăng:
50Nihcae thung ih maeto mah kalen koek qaima tamna ih, bantang naa to takroek pae pat.
50Một người trong các sứ đồ đánh đầy tớ của thầy cả thượng phẩm và chém đứt tai bên hữu.
51Jesu mah, Khawt boeh, tiah a naa. Anih mah to kami ih naa to sui pae moe, anih to ngan a tuisak.
51Nhưng Đức Chúa Jêsus cất tiếng phán rằng: Hãy để cho họ đến thế! Ngài bèn rờ tai đầy tớ ấy, làm cho nó được lành.
52To pacoengah Jesu mah anih khaeah angzo kalen koek qaima, tempul khenzawnkung angraengnawk hoi kacoehtanawk khaeah, Kamqu naeh han ih baktiah maw, sumsen hoi thingboeng hoiah nang zoh o?
52Đoạn, Đức Chúa Jêsus phán cùng các thầy tế lễ cả, các thầy đội coi đền thờ, và các trưởng lão đã đến bắt Ngài, rằng: Các ngươi cầm gươm và gậy đến bắt ta như bắt kẻ trộm cướp.
53Ni thokkruek nangcae hoi nawnto tempul thungah ka oh naah loe nang naeh o ai bae: toe hae loe khoving thacakhaih hoi nangcae ih atue roe boeh ni, tiah a naa.
53Hằng ngày ta ở trong đền thờ với các ngươi, mà các ngươi không ra tay bắt ta. Nhưng nầy là giờ của các người, và quyền của sự tối tăm vậy.
54Anih to naeh o moe, kalen koek qaima im ah caeh o haih. Toe Piter loe kangthla hoiah patom.
54Bấy giờ họ bắt Đức Chúa Jêsus đem đi, giải Ngài đến nhà thầy cả thượng phẩm. Phi-e-rơ đi theo Ngài xa xa.
55Nihcae loe impui thungah nawnto anghnut o moe, hmai angawt o; to naah Piter doeh nihcae salakah anghnut toeng.
55Họ nhúm lửa giữa sân, rồi ngồi với nhau; Phi-e-rơ cũng ngồi giữa đám họ.
56Anih hmai kungah anghnut naah, tamna nongpata maeto mah Piter to hnuk, mikhmai ah khet moe, Hae kami doeh Anih hoi nawnto kaom kami ni, tiah a naa.
56Một con đòi kia thấy Phi-e-rơ ngồi gần lửa, thì ngó chăm chỉ, mà nói rằng: Người nầy vốn cũng ở với người ấy.
57Toe Piter mah Anih to angphat taak, Nongpata, Anih to ka panoek ai, tiah a naa.
57Song Phi-e-rơ chối Đức Chúa Jêsus, nói rằng: Hỡi đàn bà kia, ta không biết người đó.
58Nawnetta oh pacoengah kalah maeto mah anih to hnuk, Nang doeh nihcae thung ih kami maeto ah ni na oh toeng, tiah a naa. Piter mah, Kai loe nihcae thung ih kami na ai ni, tiah a naa.
58Một lát, có người khác thấy Phi-e-rơ, nói rằng: Ngươi cũng thuộc về bọn đó! Phi-e-rơ đáp rằng: Hỡi người, ta không phải thuộc về bọn đó đâu.
59Atue maeto akra pacoengah, kalah kami maeto bae mah, Tangtang ni hae kami doeh Anih hoi nawnto kaom kami ah oh: anih loe Kalili kami ni, tiah a naa.
59Độ cách một giờ, có kẻ khác đề quyết như vậy mà rằng: Thật người nầy cũng ở với Jêsus, vì người là dân Ga-li-lê.
60Piter mah, Na thuih ih lok to ka panoek ai, tiah a naa. Akra ai, anih lok thuih li naah, aakhong roep.
60Nhưng Phi-e-rơ cãi rằng: Hỡi người, ta không biết ngươi nói chi! Đang lúc Phi-e-rơ còn nói, thì gà liền gáy;
61Angraeng loe angqoi moe, Piter to khet. Angraeng mah anih khaeah, Aakhong ai naah, vai thumto kai nang phat taak tih, tiah thuih ih lok to Piter mah poek.
61Chúa xây mặt lại ngó Phi-e-rơ. Phi-e-rơ nhớ lại lời Chúa đã phán cùng mình rằng: Hôm nay trước khi gà chưa gáy, ngươi sẽ chối ta ba lần;
62To pongah Piter loe tasa bangah caeh moe, palungnat loiah qah.
62rồi đi ra ngoài, khóc lóc thảm thiết.
63Jesu naeh kaminawk mah, Anih to pahnui o thuih moe, boh o.
63Vả, những kẻ canh Đức Chúa Jêsus nhạo báng và đánh Ngài;
64A mik to zaeng pae o khoep moe, mikhmai ah thong o, Nang bop kami loe mi maw? Thui ah, tiah a naa o.
64che mặt Ngài lại rồi nói rằng: Hãy nói tiên tri đi, hãy đoán xem ai đánh ngươi!
65Kalah loknawk hoiah doeh Anih kasae to thuih o.
65Họ lại nhiếc móc Ngài nhiều lời khác nữa.
66Khodai naah loe, rangpui kacoehtanawk, kalen koek qaima hoi ca tarik kaminawk nawnto amkhueng o, lokcaek kaminawk hma ah anih to hoih o,
66Đến sáng ngày, các trưởng lão trong dân, các thầy tế lễ cả, và các thầy thông giáo nhóm lại, rồi sai đem Đức Chúa Jêsus đến nơi tòa công luận.
67nang loe Kri maw, na thui ah, tiah a naa o. Anih mah nihcae khaeah, Kang thuih o cadoeh, na tang o mak ai:
67Họ hỏi Ngài rằng: Nếu ngươi phải là Đấng Christ, hãy xưng ra cho chúng ta. Ngài đáp rằng: Nếu ta nói, thì các ngươi không tin;
68lok kang dueng o cadoeh, nang pathim o thai mak ai, kai doeh nang prawt o mak ai.
68nếu ta tra gạn các ngươi, thì các ngươi không trả lời.
69Vaihi hoi kamtong Kami Capa loe thacak Sithaw bantang bangah anghnu tih boeh, tiah a naa.
69Nhưng từ nay về sau, Con người sẽ ngồi bên hữu quyền phép Đức Chúa Trời.
70To naah nihcae boih mah, To tih nahaeloe nang loe Sithaw Capa ah maw na oh? tiah a naa o. Anih mah nihcae khaeah, Kai loe na thuih o ih baktih toengah ka oh, tiah a naa.
70ai nấy đều hỏi rằng: Vậy, ngươi là Con Đức Chúa Trời sao? Ngài đáp rằng: Chính các ngươi nói ta là Con Ngài.
71To naah nihcae mah, Aicae han tih kalah hnukung maw angai vop? Angmah ih pakha hoi tacawt lok to a thaih o boih boeh hae loe, tiah a thuih o.
71Họ bèn nói rằng: Chúng ta nào có cần chứng cớ nữa làm chi? Chính chúng ta đã nghe từ miệng nó nói ra rồi.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.