Luka
Chapter 8
Asang Khongca Bible (Eas…

Read in

Smith–Van Dyck Arabic Bible (فان دايك)Brezhoneg (Breton Gospels, 1827)Judson Burmese Bible (1840)Chamorro: Gospels, Acts and PsalmsChinese Union Version, punctuated (Simplified)Chinese Union Version, punctuated (Traditional)Coptic New TestamentCoptic New Testament (Bohairic)Kralice Bible (1613)Testamenta Marra (Dieri New Testament)Petrus Canisius Bible, 1939 (De Heilige Schrift)Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)Berean Standard BibleDouay-Rheims Bible, American Edition (1899)King James Version with ApocryphaWorld English BibleLondona Biblio (Esperanto, 1910)Louis Segond 1910Lutherbibel 1912Greek New Testament, word by word (STEPBible TAGNT)Greek New Testament: 1904 Patriarchal Text (Byzantine)Greek New Testament: Byzantine Text (Robinson–Pierpont 2018)Greek New Testament: Textus ReceptusSBL Greek New TestamentBaibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)Modern Hebrew BibleDiodati Bibbia 1885Freedom Bible (フリーダム・バイブル)Korean Bible, 1910 (한국어 성경)Bible Mutal (Kosraean)Clementine Vulgate, 1598Baibal Olcim (Matupi Chin)Meriam Mir GospelsOld Persian Version (ترجمه قدیم)Kadede Kap (Pohnpeian New Testament and Psalms)Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)Cornilescu Bible (1924), Cyrillic scriptSynodal Translation (Синодальный перевод)Daničić–Karadžić Bible (1868), CyrillicReina-Valera 1909Biblia Takatifu (Swahili): New Testament portionsFreedom Bible (Thai)Tongan Bible, Revised West VersionKulish and Puluj Bible (1905)Vietnamese Bible (1923 translation)
vs Vietnamese Bible (…

Compare with

Smith–Van Dyck Arabic Bible (فان دايك)Brezhoneg (Breton Gospels, 1827)Judson Burmese Bible (1840)Chamorro: Gospels, Acts and PsalmsChinese Union Version, punctuated (Simplified)Chinese Union Version, punctuated (Traditional)Coptic New TestamentCoptic New Testament (Bohairic)Kralice Bible (1613)Testamenta Marra (Dieri New Testament)Petrus Canisius Bible, 1939 (De Heilige Schrift)Berean Standard BibleDouay-Rheims Bible, American Edition (1899)King James Version with ApocryphaWorld English BibleLondona Biblio (Esperanto, 1910)Louis Segond 1910Lutherbibel 1912Greek New Testament, word by word (STEPBible TAGNT)Greek New Testament: 1904 Patriarchal Text (Byzantine)Greek New Testament: Byzantine Text (Robinson–Pierpont 2018)Greek New Testament: Textus ReceptusSBL Greek New TestamentBaibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)Modern Hebrew BibleDiodati Bibbia 1885Freedom Bible (フリーダム・バイブル)Korean Bible, 1910 (한국어 성경)Bible Mutal (Kosraean)Clementine Vulgate, 1598Baibal Olcim (Matupi Chin)Meriam Mir GospelsOld Persian Version (ترجمه قدیم)Kadede Kap (Pohnpeian New Testament and Psalms)Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)Cornilescu Bible (1924), Cyrillic scriptSynodal Translation (Синодальный перевод)Daničić–Karadžić Bible (1868), CyrillicReina-Valera 1909Biblia Takatifu (Swahili): New Testament portionsFreedom Bible (Thai)Tongan Bible, Revised West VersionKulish and Puluj Bible (1905)Vietnamese Bible (1923 translation)Stop comparing
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1To pacoengah, Jesu loe vangpui hoi vangta boih ah caeh moe, Sithaw mah siangpahrang ah ukhaih prae ih kahoih tamthanglok to taphong, a hnukbang hatlai hnettonawk doeh anih khaeah oh o.
1Kế đó, Đức Chúa Jêsus đi thành nầy đến thành kia, làng nầy đến làng khác, giảng dạy và rao truyền tin lành của nước Đức Chúa Trời. Có mười hai sứ đồ ở với Ngài.
2Taqawk sae mah naehhaih thung hoi ngan katui let thoemto nongpatanawk, takoh thung hoiah taqawk sae sarihto tacawt Meri, tiah kawk ih Magdalene,
2Cũng có mấy người đàn bà đi theo Ngài, là những người đã được cứu khỏi quỉ dữ và chữa khỏi bịnh: Ma-ri, gọi là Ma-đơ-len, từ người bảy quỉ dữ đã ra,
3Herod ih im khenzawnkung, Chuza ih zu Joanna, Susanna hoi Anih han angmacae ih hmuennawk kapaek kalah nongpatanawk to oh o.
3Gian-nơ vợ Chu-xa, là quan nội vụ của vua Hê-rốt, Su-xan-nơ và nhiều người khác nữa giúp của cải cho Ngài.
4Avang kruek ih pop parai kaminawk nawnto amkhueng o moe, Anih khaeah angzoh o, to naah anih mah patahhaih lok to thuih pae:
4Khi có đoàn dân đông nhóm lại, và người hết thảy các thành đều đến cùng Ngài, thì Ngài lấy thí dụ mà phán cùng họ rằng:
5aantii haeh kami loe angmah ih aantii to haeh hanah a caeh: antii to a haeh naah thoemto loe loklam ah krak; kaminawk mah cawh o moe, van ih tavanawk mah akhuih o ving.
5Người gieo đi ra để gieo giống mình. Khi vải giống, một phần giống rơi ra dọc đường, bị giày đạp và chim trời xuống ăn hết.
6Thoemto loe thlung nuiah krak; akra ai ah amprawk roep, toe long kahoih om ai pongah azaem ving.
6Một phần khác rơi ra nơi đất đá sỏi, khi mới mọc lên, liền héo đi, vì không có hơi ẩm.
7Thoemto loe soekhring thungah krak; soekhring qoeng tahang naah, aankung to tacet hmoek.
7Một phần khác rơi vào bụi gai, gai mọc lên với hột giống, làm cho nghẹt ngòi.
8Thoemto aantii loe long kahoih nuiah krak, amprawk tahang moe, alet cumvai khoek to athaih. Hae loknawk a thuih pacoengah, anih mah, Thaihaih naa tawn kami loe thaih nasoe, tiah a naa.
8Lại có một phần khác rơi xuống nơi đất tốt, thì mọc lên, và kết quả, một thành trăm. Đang phán mấy lời đó, Ngài kêu lên rằng: Ai có tai mà nghe, hãy nghe.
9A hnukbang kaminawk mah patahhaih lok thuih koehhaih to anih khaeah dueng o.
9Môn đồ hỏi Ngài thí dụ ấy có nghĩa gì.
10Anih mah, Sithaw mah siangpahrang ah ukhaih prae tamqu lok panoekhaih to nangcae khaeah paek boeh: toe kalah kaminawk khaeah loe patahhaih lok hoiah thuih han ih ni paek; Nihcae loe khen o cadoeh hnu o mak ai, thaih o cadoeh panoek o mak ai, tiah a naa.
10Ngài đáp rằng: Đã ban cho các ngươi được biết những sự mầu nhiệm nước Đức Chúa Trời; song, với kẻ khác thì dùng thí dụ mà nói, để họ xem mà không thấy, nghe mà không hiểu.
11Patahhaih lok thuih koehhaih loe hae tiah oh: aantii loe Sithaw lok to ni.
11Nầy, lời thí dụ đó nghĩa như vầy: Hột giống là đạo Đức Chúa Trời.
12Loklam ah krah aantii loe tamthanglok hoih thaih kami ah oh o, toe nihcae mah lok to tang o ueloe, pahlonghaih hnu o moeng tih, tih pongah taqawk loe angzoh moe, nihcae palung thung ih lok to lak pae ving.
12Phần rơi ra dọc đường, là những kẻ nghe đạo; nhưng về sau ma quỉ đến, cướp lấy đạo từ trong lòng họ, e rằng họ tin mà được cứu chăng.
13Thlung nuiah kakrah aantii loe lok to thaih o moe, anghoehaih hoiah talawk o roep; toe tangzun om ai, a tanghaih loe nawnetta thung khueah oh pongah, pacuekhaih tue phak naah amtimh ving kami thuih koehhaih ih ni.
13Phần rơi ra đất đá sỏi là kẻ nghe đạo, bèn vui mừng chịu lấy; nhưng họ không có rễ, chỉ tin tạm mà thôi; nên khi sự thử thách đến, thì họ tháo lui.
14Soekhring thungah kakrah aantii loe lok to thaih o, toe hae long nui khosak mawnhaih, angraenghaih hoi kanawm acaenghaihnawk mah lok to khuk khoep pongah, athaih athai ai kami to thuih koehhaih ih ni.
14Phần rơi vào bụi gai, là những kẻ đã nghe đạo, nhưng rồi đi, để cho sự lo lắng, giàu sang, sung sướng đời nầy làm cho đạo phải nghẹt ngòi, đến nỗi không sanh trái nào được chín.
15Toe kahoih long nuiah kakrah aantii loe, lok to toenghaih palungthin, kahoih palungthin hoiah tahngai moe, pakuem kami, palungsawkhaih hoiah athaih athai kami to thuih koehhaih ih ni.
15Song phần rơi vào nơi đất tốt, là kẻ có lấy lòng thật thà tử tế nghe đạo, gìn giữ và kết quả một cách bền lòng.
16Mi mah doeh hmaithawk paaang naah, takho hoiah khuk vai ai, to tih ai boeh loe iihkhun tlim ah suem vai ai; imthung ah akun kaminawk mah aanghaih hnuk o thai hanah, hmaithawk paaanghaih ahmuen ah ni a suek o.
16Không ai đã thắp đèn tại lấy thùng úp lại, hay là để dưới giường; nhưng để trên chân đèn, hầu cho ai vào nhà đều thấy sáng.
17Amtueng thai ai, tamquta ah kaom hmuen tidoeh om ai baktih toengah, amtueng ai, panoek han ai ah kanghawk, hmuen tidoeh om ai.
17Thật không có điều gì kín mà không phải lộ ra, không có điều gì giấu mà chẳng bị biết và tỏ ra.
18To pongah kawbangmaw ka thaih thai han, tiah acoehaih hoiah lok to tahngai oh: mi kawbaktih doeh katawn kami loe paek aep tih; katawn ai kami loe ka tawnh boeh, tiah a poek ih hmuen to doeh la pae kik tih, tiah a naa.
18Vậy, hãy coi chừng về cách các ngươi nghe; vì kẻ đã có, sẽ cho thêm; kẻ không có, sẽ cất lấy sự họ tưởng mình có.
19Jesu ih amno hoi nawkamyanawk loe anih khaeah angzoh o, toe kami pop parai pongah anih khaeah caeh o thai ai.
19Mẹ và anh em Đức Chúa Jêsus đến tìm Ngài; song vì người ta đông lắm, nên không đến gần Ngài được.
20Thoemto kaminawk mah, nam no hoi nam nawkamyanawk mah nang hnuk han koeh o pongah, tasa bangah angdoet o, tiah a naa.
20Vậy có kẻ báo cho Ngài biết rằng: Mẹ và anh em thầy ở ngoài, muốn thấy thầy.
21Anih mah nihcae khaeah, Sithaw lok tahngai moe, to tiah khosah kaminawk loe Kai ih amno hoi Kai ih nawkamya ah ni oh o, tiah a naa.
21Nhưng Ngài đáp rằng: Mẹ ta và anh em ta là kẻ nghe đạo Đức Chúa Trời và làm theo đạo ấy.
22Nito naah, anih loe a hnukbang kaminawk hoi nawnto palong thungah caeh, Anih mah nihcae khaeah, Tui kangbuem yaeh ah caeh o si, tiah a naa. Nihcae loe to ah caeh o.
22Một ngày kia, Ngài xuống thuyền với môn đồ, mà phán rằng: Hãy qua bên kia hồ; rồi đi.
23Toe a caeh o naah anih loe iih: tui kanguem a phak o naah takhi sae to song; palong thungah tui koi mong boeh pongah, nihcae loe raihaih tong o.
23Khi thuyền đang chạy, thì Ngài ngủ. Có cơn bão nổi lên trong hồ, nước vào đầy thuyền, đang nguy hiểm lắm.
24A hnukbang kaminawk anih khaeah angzoh o moe, anih to palawt o, Angraeng, Angraeng, kang hmat o tom boeh, tiah a naa o.
24Môn đồ bèn đến thức Ngài dậy, rằng: Thầy ôi, Thầy ôi, chúng ta chết! Nhưng Ngài, vừa thức dậy, khiến gió và sóng phải bình tịnh thì liền bình tịnh và yên lặng như tờ.
25Anih mah a hnukbang kaminawk khaeah, Tanghaih naah maw na suek o? tiah a naa. Nihcae loe zit o moe, dawnraihaih hoiah oh o. Hae loe kawbaktih kami maw! Takhi hoi tui hanah lok a paek naah, a lok to tahngai pae o, tiah maeto hoi maeto a thuih o.
25Ngài bèn phán cùng môn đồ rằng: Đức tin các ngươi ở đâu? Môn đồ sợ hãi và bỡ ngỡ, nói với nhau rằng: Người nầy là ai, khiến đến gió và nước, mà cũng phải vâng lời người?
26Nihcae loe Kalili prae zaeh ah kaom, Gerasenes prae ah caeh o.
26Kế đó, ghé vào đất của dân Giê-ra-sê, ngang xứ Ga-li-lê.
27Anih saoeng ah phak naah, to vangpui ah kaom saning sawk parai ah taqawk mah naeh ih kami maeto mah Jesu to hnuk. To kami loe laihaw angkhuk ai, im ah doeh om ai, taprong ah ni khosak.
27Khi Đức Chúa Jêsus lên bờ, có một người ở thành ấy bị nhiều quỉ ám đi gặp Ngài. Đã lâu nay, người không mặc áo, không ở nhà, song ở nơi mồ mả.
28Anih mah Jesu to hnuk naah, anih khokkung ah amtimh, Kasang koek Sithaw Capa, Jesu, nang hoi kai timaw asaenghaih oh, kai hae na pacaekthlaek hmah, tahmenhaih kang hnik, tiah tha hoi a hangh.
28Người ấy vừa thấy Đức Chúa Jêsus thì la lên inh ỏi, và đến gieo mình nơi chân Ngài, nói lớn tiếng rằng: Lạy Đức Chúa Jêsus, Con Đức Chúa Trời Rất Cao, tôi với Ngài có sự chi chăng? Tôi cầu xin Ngài, đừng làm khổ tôi.
29(Anih mah to kami ih takoh thung hoi tacawt hanah taqawk sae to lokpaek. To kami loe taqawk sae mah naeh tuektuek boeh: anih ih khok ban to sumqui hoiah pathlet pae o moe, sumboeng hoiah doeh thlongthuk o boeh; toe sumqui to taprawt pat pacoengah, taqawk mah anih to praezaek ah hoih ving.)
29Vì Đức Chúa Jêsus đang truyền cho tà ma phải ra khỏi người đó mà nó đã ám từ lâu; dầu họ giữ người, xiềng và còng chân lại, người cứ bẻ xiềng tháo còng, và bị quỉ dữ đem vào nơi đồng vắng.
30Jesu mah anih khaeah, Nang ih ahmin loe mi aa? tiah dueng. To naah anih mah, Takoh thungah taqawk oh mangh pongah, Legion, tiah a naa.
30Đức Chúa Jêsus hỏi người rằng: Mầy tên gì? Người thưa rằng: Quân đội; vì nhiều quỉ đã ám vào người.
31Nihcae to kathuk tahawt thungah caehsak han ai ah, anih khaeah tahmenhaih hnik o.
31Chúng nó bèn cầu xin Đức Chúa Jêsus đừng khiến mình xuống vực sâu.
32To ah pop parai ok pacahhaih ahmuen to oh: nihcae mah ok thung akun hanah anih khaeah hnik o. To naah Anih mah akunsak.
32Vả, ở đó có một bầy heo đông đang ăn trên núi. Các quỉ xin Đức Chúa Jêsus cho chúng nó nhập vào những heo ấy, Ngài bèn cho phép.
33Taqawknawk loe kami takoh thung hoi tacawt o moe, ok takoh thungah akun o: to naah oknawk loe tui kangbuem ohhaih bangah cawnh o tathuk moe, tui uem o boih.
33Vậy, các quỉ ra khỏi người đó, nhập vào bầy heo, bầy heo từ trên bực cao đâm đầu xuống hồ và chết chìm.
34To tiah kaom hmuen to ok pacah kaminawk mah hnuk o naah, vangpui hoi vangta ah cawnh o moe, to tiah kaom hmuen kawng to a thuih o.
34Các kẻ chăn heo thấy vậy chạy trốn, đồn tin ấy ra trong thành và trong nhà quê.
35To tiah kaom hmuen to khet hanah kaminawk loe to ahmuen ah caeh o; Jesu khaeah a phak o naah, kahni angkhuk moe, poek kaciim ah Jesu khokkung ah anghnu, takoh thung hoi taqawk tacawt kami to a hnuk o; nihcae mah to kami to zit o.
35Thiên hạ bèn đổ ra xem việc mới xảy ra; khi họ đến cùng Đức Chúa Jêsus, thấy người mà các quỉ mới ra khỏi ngồi dưới chân Đức Chúa Jêsus, mặc áo quần, bộ tỉnh táo, thì sợ hãi lắm.
36Hnu kaminawk boih mah taqawk mah naeh ih kami loe kawbangmaw ngantui let, tito kaminawk khaeah thuih pae o.
36Những người đã xem thấy sự lạ đó, thuật lại cho thiên hạ biết người bị quỉ ám được cứu khỏi thế nào.
37Gaderene prae taengah kaom paroeai kaminawk loe zit o pongah, nihcae caehtaak hanah Angraeng khaeah tahmenhaih hnik o: to pongah anih palong thungah akun moe, amlaem let.
37Hết thảy dân ở miền người Giê-ra-sê xin Đức Chúa Jêsus lìa khỏi xứ họ, vì họ sợ hãi lắm. Ngài bèn xuống thuyền trở về.
38Takoh thung hoi taqawk tacawt kami mah Angraeng hnuk bang hanah a hnik: toe Jesu mah anih to patoeh ving,
38Người đã khỏi những quỉ ám xin phép ở với Ngài, nhưng Đức Chúa Jêsus biểu về, mà rằng:
39nangmah im ah amlaem ah loe, Sithaw mah kawkruk ah kalen hmuen maw na nuiah sak, tito patuek ah, tiah a naa.
39Hãy về nhà ngươi, thuật lại mọi điều Đức Chúa Trời đã làm cho ngươi. Vậy, người ấy đi, đồn khắp cả thành mọi điều Đức Chúa Jêsus đã làm cho mình.
40Jesu amlaem let naah, pop parai kaminawk mah anih to zing o, anih to oephaih hoiah talawk o.
40Khi trở về, có đoàn dân đông rước Ngài; vì ai nấy cũng trông đợi Ngài.
41Khenah, Jairu, tiah ahmin kaom, Sineko ukkung maeto angzoh: anih loe Jesu khokkung ah tabok moe, anih im ah caeh pae hanah tahmenhaih a hnik:
41Có người cai nhà hội tên là Giai-ru đến sấp mình xuống nơi chân Đức Chúa Jêsus, xin Ngài vào nhà mình.
42saning hatlai hnetto kaom, maeto khue tawn ih a canu loe, ngannat moe duek duih. Anih loklam ah caeh naah, pop parai kaminawk anih khaeah amkhueng o.
42Vì người có con gái một, mười hai tuổi, gần chết. Khi Đức Chúa Jêsus đang đi, dân chúng lấn ép Ngài tứ phía.
43To naah saning hatlai hnetto athii kalong nongpata maeto oh, anih loe a tawnh ih hmuennawk to zawh boih moe, tuisi kop kami khaeah a caeh, toe mi mah doeh anih to ngantui o sak thai ai.
43Bấy giờ, có một người đàn bà đau bịnh mất huyết mười hai năm rồi, cũng đã tốn hết tiền của về thầy thuốc, không ai chữa lành được,
44To nongpata loe anih hnuk ah caeh moe, anih ih kahni tom to sui: to naah kalong athii to dip roep.
44đến đằng sau Ngài rờ trôn áo; tức thì huyết cầm lại.
45Jesu mah, Kai sui kami loe mi maw? tiah a naa. Kaminawk boih mah panoek ai, tiah a naa o. Piter hoi anih hoi nawnto kaom kaminawk mah, Angraeng, pop parai kaminawk mah nang ang et o moe, ang nuih o to loe, Kai sui kami loe mi maw? tiah na thuih, tiah a naa.
45Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Ai sờ đến ta? Ai nấy đều chối; Phi-e-rơ và những người đồng bạn thưa rằng: Thưa thầy, đoàn dân vây lấy và ép thầy.
46Jesu mah, Kami maeto mah Kai ang sui: Kai khae hoi sakthaihaih tha tacawt boeh, tito ka panoek, tiah a naa.
46Đức Chúa Jêsus phán rằng: Có người đã rờ đến ta, vì ta nhận biết có quyền phép từ ta mà ra.
47Nongpata mah kang phat thai ai boeh, tiah panoek naah, tasoehhaih hoiah a caeh moe, a hmaa ah cangkrawn pacoengah, anih suihaih hoi ngan a tuihaih kawng to paroeai kaminawk hmaa ah taphong.
47Người đàn bà thấy mình không thể giấu được nữa, thì run sợ, đến sấp mình xuống nơi chân Ngài, tỏ thật trước mặt dân chúng vì cớ nào mình đã rờ đến, và liền được lành làm sao.
48To pacoengah nongpata khaeah, Ka canu, na tanghaih mah ang hoihsak boeh: kamongah caeh lai ah, tiah a naa.
48Nhưng Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hỡi con gái ta, đức tin ngươi đã chữa lành ngươi; hãy đi cho bình an.
49Anih mah lokthuih li naah, Sineko ukkung Jairu im hoiah kami maeto angzoh moe, Na canu loe duek boeh; Patukkung to raihaih paek khing hmah lai ah, tiah a naa.
49Ngài còn đang phán, có kẻ ở nhà người cai nhà hội đến nói với người rằng: Con gái ông chết rồi; đừng làm phiền thầy chi nữa.
50Jesu mah to lok to thaih naah, Jairu khaeah, Tasoeh hmah: tanghaih palung khue mah tawn ah, na canu loe ngantui let tih , tiah a naa.
50Song Đức Chúa Jêsus nghe vậy, phán cùng Giai-ru rằng: Đừng sợ, hãy tin mà thôi, thì con ngươi sẽ được cứu.
51Anih Jairu im ah phak naah loe Piter, Johan, Jakob hoi nongpata ih amno ampanawk khue ai ah loe, mi doeh imthung ah akunsak ai.
51Khi đến nhà, Ngài chỉ cho Phi-e-rơ, Gia-cơ, Giăng, và cha mẹ con ấy vào cùng Ngài.
52Kaminawk boih anih hanah palungsethaih hoiah qah o haih: Anih mah, Qah o hmah; anih loe dueh ai, iih ni a iih, tiah a naa.
52Ai nấy đều khóc lóc than vãn về con đó. Nhưng Ngài phán rằng: Đừng khóc, con nầy không phải chết, song nó ngủ.
53Nongpata loe duek boeh, tiah nihcae mah panoek o pognah, Anih to pahnui o thuih.
53Họ biết nó thật chết rồi, bèn nhạo báng Ngài.
54Anih loe to ah kaom kaminawk to tasa bangah tacawtsak boih moe, nongpata ih ban to patawnh pae, Nongpata ta, angthawk ah, tiah a naa.
54nhưng Đức Chúa Jêsus cầm lấy tay con ấy, gọi lớn tiếng lên rằng: Con ơi, hãy chờ dậy!
55To naah anih ih pakhra amlaem let moe, angthawk roep: nongpata to caaknaek paek o hanah Jesu mah thuih pae.
55Thần linh bèn hoàn lại, con ấy chờ dậy liền; rồi Ngài truyền cho nó ăn.
56Nongpata ih amno hoi ampa loe paroeai dawnrai hoi: toe to tiah kaom hmuen to mi khaeah doeh thuih han ai ah lok a paek.
56Cha mẹ nó lấy làm lạ; nhưng Ngài cấm nói lại sự xảy ra đó với ai.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.