Luka 9
Meriam Mir GospelsTranslation
Meriam Mir Gospels
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Ege E darabgerare abara kaimeg giz, tuelf le, ege E uiabim nakuarare abele adigiri, pako abele sirdam demoni giz uridili dituaki, pako gaire gim le giz uiabi idigiri.
1Đức Chúa Jêsus nhóm họp mười hai sứ đồ, ban quyền năng phép tắc để trị quỉ chữa bịnh.
2Ege E uiabi namarida ko natomertare Ade ra baselaia ge, a uiabi idigiri gaire gim le.
2Rồi Ngài sai đi rao giảng về nước Đức Chúa Trời cùng chữa lành kẻ có bịnh.
3Ege E uiabim detager, kega, Uaba nole lu aisare kak abele bakeamu, nole koket kak, nole epei kak, nole leuer kak, a nole mani kak; a nole neisi am uali ameare.
3Ngài dạy rằng: Đi đường chớ đem gì theo hết, hoặc gậy, hoặc bao, hoặc bánh, hoặc tiền bạc; cũng đừng đem hai áo.
4Uaba nerute meta ge badari, emeri abele, a iako bakeamu.
4Hễ các ngươi vào nhà nào, hãy ở đó cho đến khi đi.
5Uiaba le giz uabim agared kak, a nolea uabi asor kak, uaba bakeamu abele gedlam, sep ditkeda uaba teter gablam, uiabi atamelam.
5Còn ai không tiếp rước các ngươi, hãy ra khỏi thành họ, và phủi bụi chân mình để làm chứng nghịch cùng họ.
6Ege uiaba bakeauare, deraueli gaire ged, a natomertare Ade ra debe mer, a uiabi idigiri gaire gim le uridili.
6Vậy, các sứ đồ ra đi, từ làng nầy tới làng kia, rao giảng Tin Lành khắp nơi và chữa lành người có bịnh.
7Ege Heroda opole asoli gaire lu uridili emetu ikeli: epe abara nerkep au okasosok, abelelam uader detager, kega, Ioane Bapataiso ko eded akaida eudelam;
7Bấy giờ, Hê rốt là vua chư hầu, nghe nói về các việc xảy ra, thì không biết nghĩ làm sao; vì kẻ nầy nói rằng: Giăng đã từ kẻ chết sống lại;
8A uader detager, kega, Elia pedali paret kak; epe uader detager, kega, Nerute perofeta emeretlam, E ko eded akaida.
8kẻ khác nói rằng: Ê-li đã hiện ra; và kẻ khác nữa thì rằng: Một trong các đấng tiên tri đời xưa đã sống lại.
9Heroda detager, kega, Kaka derapeida Ioane ra kerem: nete le kaka asoli gaire mer mokakalam? E lagelag abi dasmer.
9Song Hê-rốt thì nói: Ta đã truyền chém Giăng rồi: vậy người nầy là ai, mà ta nghe làm những việc dường ấy? Vua bèn tìm cách thấy Đức Chúa Jêsus.
10Ege kaimeg giz ko takomeda, uiaba abim etomertare gaire lu uiaba emetu ikeli. Epe E uiabi ais nerute uteb, nolea le kak, abele ged nei atker Bethesaida.
10Các sứ đồ trở về trình cùng Đức Chúa Jêsus mọi việc mình đã làm. Ngài bèn đem các sứ đồ đi tẻ ra với mình đến gần thành kia gọi là Bết-sai-đa.
11Ege gaire le lakub uiaba emetu umele, a uiaba abi irmilare: ege E uiabi agiz, E uiabi detager tonar Ade ra baselaia ge, pako idigiri uader le lagelag eded.
11Nhưng dân chúng nghe vậy, thì đi theo Ngài. Đức Chúa Jêsus tiếp đãi dân chúng, giảng cho họ về nước Đức Chúa Trời, và chữa cho những kẻ cần được lành bịnh.
12Ege maike lem baraigida; epe gaire tuelf le tabarki, a abi detager, kega, Debele ma namarida gaire le lakub, iaueakai uiaba bakeauare gaire uteb, abele kebi uteb maike, uiaba emeri, a leuer deraimer: abelelam abele uteb nolea le kak.
12Khi gần tối, mười hai sứ đồ đến gần Ngài mà thưa rằng: Xin truyền cho dân chúng về, để họ đến các làng các ấp xung quanh mà trọ và kiếm chi ăn; vì chúng ta ở đây là nơi vắng vẻ.
13Ege E uiabi detager, kega, Uaba uiabi leuer ikuar. Ege uiaba abi detager, kega, Meriba nolea leuer kak, no faif areto a lar neisi; debele keriba ko bakeamu leuer terapei uiabim peike gaire le lakub.
13Song Ngài phán rằng: Chính các ngươi hãy cho họ ăn. Các sứ đồ thưa rằng: Ví thử chính mình chúng tôi không đi mua đồ ăn cho hết thảy dân nầy, thì chỉ có năm cái bánh và hai con cá mà thôi.
14Abelelam mokakalam faif tausan le uridili. Ege E uiabim detager, kega, abara kaimeg giz, Uaba uiabim detager debele uiaba manoro emeri, fifte le gaire nosik.
14Vả, bấy giờ có độ năm ngàn người nam ở đó. Ngài bèn phán cùng môn đồ rằng: Hãy biểu chúng ngồi từng hàng năm mươi người.
15Ege uiaba ikerare abkoreb mokakalam abara mer, a uiabim uridili detagereda, kega, Gaire nosik uaba mamoro emeri.
15Môn đồ làm theo lời; chúng ngồi xuống hết thảy.
16Epe E tais faif areto a lar neisi, E kotor dimirualu, a esoao, a itur; a uiabi nakuarare, abara kaimeg giz, a uiaba naisuerare abele gaire le lakub.
16Đoạn, Đức Chúa Jêsus lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, chúc tạ, rồi bẻ ra trao cho môn đồ, đặng phát cho đoàn dân.
17Ege uiaba eroare, ege uiaba uridili gem osmeda; epe uiaba kaier leuer arot epei ge, ege tuelf epei osmeda, leuer mogmog.
17Ai nấy ăn no rồi, người ta thâu được mười hai giỏ đầy những miếng thừa.
18E tepteb esorerapare, abara kaimeg giz uiaba okakis: epe E uiabi nautumerare, kega, Nako gaire le la mer karim nete?
18Một ngày kia, Đức Chúa Jêsus đang cầu nguyện riêng, môn đồ nhóm lại xung quanh Ngài, Ngài hỏi rằng: Trong dân chúng, họ nói ta là ai?
19Ege uiaba abi detautare, kega, Ioane Bapataiso; epe uader detager, kega, Elia; a uader detager, kega, Nerute perofeta emeretlam, E ko eded akaida.
19Thưa rằng: Người nầy nói là Giăng Báp-tít, người kia nói là Ê-li; kẻ khác nói là một trong các đấng tiên tri đời xưa sống lại.
20Ege E uiabim detager, kega, Nako uaba mer karim nete? Epe Peteru abi detaut, kega, Mama Keriso Adelam.
20Ngài lại hỏi rằng: Còn về phần các ngươi thì nói ta là ai? Phi-e-rơ thưa rằng: Thầy là Đấng Christ của Đức Chúa Trời.
21Epe E uiabim daraisumdarare, kega, Nolea nerute le etomeret abele lu;
21Đức Chúa Jêsus nghiêm cấm môn đồ nói sự ấy với ai,
22Kega, Abkoreb gaire lu asias Ade ra Uerem, pako aule giz abi dikaer, pako zogozogo le giz, pako aotale giz, uiaba abi ipitare, a thri gerger ko eded.
22và phán thêm rằng: Con người phải chịu nhiều điều khốn khổ, phải bị các trưởng lão, các thầy tế lễ cả, và các thầy thông giáo bỏ ra, phải bị giết, ngày thứ ba phải sống lại.
23Ege E uiabim gaire le uridili detager, kega, Ese nerute le lagelag kari narmili, mamoro E tababu obogai, abara satauro bakuar gaire gerger, a kari narmili.
23Đoạn, Ngài phán cùng mọi người rằng: Nếu ai muốn theo ta, phải tự bỏ mình đi, mỗi ngày vác thập tự giá mình mà theo ta.
24Abelelam, ese nerute le lagelag abara eded asisiem, abele ko abi; ese nerute le abara eded abi karielam, abele ko ededem.
24Vì ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai vì cớ ta mất sự sống, thì sẽ cứu.
25Abelelam, ese nerute le geseb ge uridili terapei, a abara mar abi, pako adem, nalu bodomalam abim?
25Nếu ai được cả thiên hạ, mà chính mình phải mất hoặc hư đi, thì có ích gì?
26Ese nerute le kari sirip ge, pako kara mer, abkoreb Le la Uerem ko abi sirip ge, E tabarki kemem gaire angela zogo, abara Aba zorom ge.
26Vì nếu ai hổ thẹn về ta và lời ta, thì Con người sẽ hổ thẹn về họ, khi Ngài ngự trong sự vinh hiển của mình, của Cha, và của thiên sứ thánh mà đến.
27Ageakar, kaka uabim detager, kega, Uader peike, uiaba nole eud kak, kekiam uiaba Ade ra baselaia dasmerauem.
27Quả thật, ta nói cùng các ngươi, một vài người trong các ngươi đang đứng đây sẽ không chết trước khi chưa thấy nước Đức Chúa Trời.
28Ege gaire mer eseamulu, nako eit gerger, epe E abi ais Peteru, pako Ioane, pako Iakobo, ege uiaba ogi nerute tumem perepere paser ge, E esorerapare.
28Độ tám ngày sau khi phán các lời đó, Đức Chúa Jêsus đem Phi-e-rơ, Giăng và Gia-cơ đi với mình lên trên núi để cầu nguyện.
29E esorerapare, a abara op depegemelu, E kakekak abara ame uali, au zoromzorom.
29Đang khi cầu nguyện, diện mạo Ngài khác thường, áo Ngài trở nên sắc trắng chói lòa.
30Dasmer, ege neisi le uiaba abi mer atagerem, Mose pako Elia;
30Và nầy, có hai người nói chuyện cùng Ngài; ấy là Môi-se và Ê-li,
31Ui etomeret au zoromzorom, ege uiaba mer atager tonar abara eumid keubu, Ierusalema ge.
31hiện ra trong sự vinh hiển, và nói về sự Ngài qua đời, là sự sẽ phải ứng nghiệm tại thành Giê-ru-sa-lem.
32Ege Peteru au uteidi pako uader abi kemem: ege uiaba ekiam, a uiaba erdalare abara au zoromzorom, pako neisi le uiaba ekue okakis.
32Phi-e-rơ cùng đồng bạn mình buồn ngủ lắm, nhưng vừa tỉnh thức ra, thấy vinh hiển của Đức Chúa Jêsus và hai đấng ấy đứng gần Ngài.
33Epe ui bakeamulei, a Iesu dikaer, epe Peteru abi detager Iesuim, kega, Opole, debele meriba emeri peike: keriba thri meta akerare; mara nerute, Mose ra nerute, a Elia ra nerute: ege E nole akiapore kak abele mer detager.
33Lúc hai đấng ấy lìa khỏi Đức Chúa Jêsus, Phi-e-rơ thưa Ngài rằng: Thưa thầy, chúng ta ở đây tốt lắm, hãy đóng ba trại, một cái cho thầy, một cái cho Môi-se và một cái cho Ê-li. Vì Phi-e-rơ không biết mình nói chi.
34Abele gaire mer, uiaba natkamda baz de, a uiaba ispilu: ege uiaba au geum, abele baz maike.
34Khi người còn đang nói, có một đám mây kéo đến, bao phủ lấy; và khi vào trong đám mây, các môn đồ đều sợ hãi.
35Le la mer teosmeda abele bazelam, kega, Kara Uerem nasge idali: uaba abim asoli.
35Bấy giờ, nghe có tiếng từ trong đám mây phán ra rằng: Nầy là Con ta, Người được lựa chọn của ta, hãy nghe Người.
36Ege abele mer sobkak eseamulu, epe uiaba erdali Iesu, E tepteb. A uiaba nolea mer kak, a uiaba nolea etomeret nerute le, abele kerker, gaire lu uiaba erdalare.
36Khi tiếng ấy phát ra, thì Đức Chúa Jêsus ở một mình. Các môn đồ nín lặng, không nói cùng ai về sự mình đã thấy.
37Idim ge, uiaba paserlam batueli, epe uiaba obapit gaire le lakub.
37Bữa sau, khi Chúa cùng môn đồ từ núi xuống, có đoàn dân đông đến đón rước Ngài.
38Dasmer, nerute le ereretikri le lakublam, kega, Ereuere le ae, kaka mari damosi, ma dasmer kara uerem; abelelam kara uerem netate:
38Một người trong đám đông kêu lên rằng: Lạy thầy, xin thầy đoái đến con trai tôi, vì là con một tôi.
39Dasmer, ege E nagri abara gim lamar uit, epe E ereretikri, E udud, abara te ueker, E bapegiri, E nolea sobkak osmelu.
39Một quỉ ám nó, thình lình kêu la; quỉ vật vã nó dữ tợn, làm cho sôi bọt miếng, mình mẩy nát hết, rồi mới ra khỏi.
40Kaka damosi mara kaimeg giz, uiaba dituaki osmeda adige; a uiaba nolea umer kak.
40Tôi đã xin môn đồ thầy đuổi quỉ đó, nhưng họ đuổi không được.
41Ege Iesu detaut, kega, Abele nosik nolea oatur kak, pako erar, kaka uabim kemem naket gerger? pako omare uabim naket gerger? mara uerem karim tegaret.
41Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hỡi dòng dõi không tin và bội nghịch kia, ta ở với các ngươi và nhịn các ngươi cho đến chừng nào? Hãy đem con của ngươi lại đây.
42Ege E tabakeamu, E ekesmeri, E udud, abele demoni giz, epe Iesu daisumda abele uit lamar, pako idigiri abele uerem, E ikuar abara aba.
42Đứa con trai vừa lại gần, quỉ xô nó nhào xuống đất, và vật vã dữ tợn. Song Đức Chúa Jêsus quở nặng tà ma, chữa lành con trẻ ấy, và giao lại cho cha nó.
43Ege uiaba uridili au damreda Ade ra atamelam. Epe uiaba uridili au damreda gaire lu Iesu de ikeli, epe E uiabi detager, abara kaimeg giz,
43Ai nấy đều lấy làm lạ về quyền phép cao trọng của Đức Chúa Trời. Khi mọi người đang khen lạ các việc Đức Chúa Jêsus làm, Ngài phán cùng môn đồ rằng:
44Uaba mamoro asoli abele mer: abelelam Ade ra Uerem maike uadikuarare le la tag.
44Về phần các ngươi, hãy nghe kỹ điều ta sẽ nói cùng: Con người sẽ bị nộp trong tay người ta.
45A uiaba nolea umer kak abele mer, ege uiaba nolea erdali, abelelam uiaba nolea asoli abele lu: ege uiaba au geum abi itimer tonar abele mer.
45Nhưng các môn đồ không hiểu lời ấy, vì đã che khuất cho mình để chẳng rõ nghĩa làm sao; và sợ không dám hỏi Ngài về lời ấy.
46Ege uiaba asareda, nete le aule.
46Các môn đồ biện luận cùng nhau cho biết ai là lớn hơn hết trong hàng mình.
47Ege Iesu opasereret abele dikiapore uiaba nerkep, epe E erpei nerute kebi uerem, E ekue maike abi dog.
47Nhưng Đức Chúa Jêsus biết ý tưởng trong lòng môn đồ, thì lấy một đứa con trẻ để gần mình,
48Ege E uiabi daratagerare, kega, Ese nerute le tegared abele kebi uerem kari nei ge, ege E karim tegared: ese nerute le karim tegared, ege E tegared abele le kari namarida: abelelam E kebile ise uabim dali, E aule.
48mà phán rằng: Hễ ai vì danh ta mà tiếp con trẻ nầy, tức là tiếp ta; còn ai tiếp ta, tức là tiếp Đấng đã sai ta. Vì kẻ nào hèn mọn hơn hết trong vòng các ngươi, ấy chính người đó là kẻ cao trọng.
49Ege Ioane de abi detager, kega, Opole, keriba erdali nerute le E imud demoni giz mari nei ge; epe keriba abi daisumdardar, abelelam E nolea meribi irmili.
49Giăng cất tiếng nói rằng: Thưa thầy, chúng tôi từng thấy có kẻ nhân danh thầy mà trừ quỉ; chúng tôi đã cấm họ, vì không cùng chúng tôi theo thầy.
50Ege Iesu abi detager, kega, Uaba nolea daisumda: ese nerute le nole meribi dedkoli, E meribi okakis.
50Nhưng Đức Chúa Jêsus phán rằng: Đừng cấm họ, vì ai không nghịch cùng các ngươi, là thuận với các ngươi.
51Ege abara kerker maike tabarki, E iako takomeda kotor ge, ege E bakeamulu Ierusalema ge,
51Khi gần đến k” Đức Chúa Jêsus được đem lên khỏi thế gian, Ngài quyết định đi thành Giê-ru-sa-lem.
52Ege uader ko namarkare abi kekiam: ui ge bakeauare bamer nerute uteb Samaria ge, ui abim derserare.
52Ngài sai kẻ đem tin đi trước mình. Họ ra đi, vào một làng của người Sa- ma-ri, để sửa soạn nhà trọ cho Ngài;
53A uiaba nolea abi la kak, abelelam E bakeamulu Ierusalema ge.
53song người Sa-ma-ri không tiếp rước Ngài, vì Ngài đi thẳng lên thành Giê- ru-sa-lem.
54Ege neis abara kaimeg giz, Iakobo a Ioane, ui erdalei, ui detagerei, kega, Opole, nako ma lagelag ki datagerei debele ur uatabu kotorlam, ueakai ui obaum, mokakalam Elia de ikeli?
54Gia-cơ và Giăng là môn đồ Ngài, thấy vậy, nói rằng: Thưa Chúa, Chúa có muốn chúng tôi khiến lửa từ trên trời xuống thiêu họ chăng?
55A Iesu sorem egreemalu, E uiabi barditug, kega, Uaba nolea umer kak tonar muige uaba nerkep.
55Nhưng Đức Chúa Jêsus xây lại quở hai người, mà rằng: Các ngươi không biết tâm thần nào xui giục mình.
56Abelelam Ade ra Uerem tabarki nolea dedkoli le la eded, epe E tabarki ueakai gaire le eded nagri. Ui ge bakeauare nerute utebem.
56Rồi Ngài cùng môn đồ đi qua làng khác.
57Ui ge bakeauare abele gab ge, ege nerute le abi detager, kega, Opole, kaka mari narmili gaire uteb ma bakeamu.
57Đang khi đi đường, có kẻ thưa Ngài rằng: Chúa đi đâu tôi sẽ theo đó.
58Ege Iesu de abi detager, kega, Arobe nagri abara kur, pako gaire epereda ebur nagri uteb uteidi; epe Le la Uerem nolea uteb kak uteidi.
58Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Con cáo có hang, chim trời có ổ; song Con người không có chỗ mà gối đầu.
59Ege E detager nerute le, Ma kari narmili. Ege abim detaut, kega, Opole, ma kari nakuar kaka kekiam nabakeamulu atkobeilu kara aba.
59Ngài phán cùng kẻ khác rằng: Ngươi hãy theo ta. Kẻ ấy thưa rằng: Xin cho phép tôi đi chôn cha tôi trước đã.
60A Iesu abi detager, kega, Debele ikedi le eumida uiaba etkobei; marim abkoreb ma ekue etomeret Ade ra baselaia ge.
60Nhưng Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết; còn ngươi, hãy đi rao giảng nước Đức Chúa Trời.
61Ege nerute le abi detager, kega, Opole, kaka mari narmili; epe ma kari nakuar kaka kekiam bakeamu natomertare karbara boai.
61Có kẻ khác nữa thưa rằng: Lạy Chúa, tôi sẽ theo Chúa, song xin cho phép tôi trước về từ giã người trong nhà tôi.
62Ege Iesu de abi detager, kega, Ese nerute le erpei abele uet abara tag, a dikaer, a ko sorem egreemalu, E nolea abkoreb Ade ra baselaia ge.
62Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ai đã tra tay cầm cày, còn ngó lại đằng sau, thì không xứng đáng với nước Đức Chúa Trời.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.