Mareko 1
Meriam Mir GospelsTranslation
Meriam Mir Gospels
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Abele ditimedilu Iesu Keriso ra debe merkem, Ade ra Uerem.
1Đầu Tin Lành của Đức Chúa Jêsus Christ, là Con Đức Chúa Trời.
2Mokakalam gaire perofeta detali, kega, Kaka emarida karbara merkem mara op, ko paret mara gab;
2Như đã chép trong sách tiên tri Ê-sai rằng: Nầy, ta sai sứ ta đến trước mặt ngươi, Người sẽ dọn đường cho ngươi.
3Le kodo ereretikri soge purge, kega, Paret Iehoua ra gab, barditug abara gab giz.
3Có tiếng kêu trong đồng vắng rằng: Hãy dọn đường Chúa, Ban bằng các nẻo Ngài;
4Ioane ko bapataiso abele soge purge, a marau bapataiso ra obazgeda ko detue adud giz.
4Giăng đã tới, trong đồng vắng vừa làm vừa giảng phép báp-tem ăn năn, cho được tha tội.
5Iako abim bakeuare le Iudaia uridili, a uiaba Ierusalemalam, E uiabi bapataiso uridili, abele Ioridano dodo, uiaba detaut uiaba adud giz.
5Cả xứ Giu-đê và hết thảy dân sự thành Giê-ru-sa-lem đều đến cùng người, xưng tội mình và chịu người làm phép báp tem dưới sông Giô-đanh.
6Kamela mus Ioane ra am uali, abara uak kau ra paur; E pem ereg a isas ra sumes are:
6Giăng mặc áo lông lạc đà, buộc dây lưng da ngang hông; ăn những châu chấu và mật ong rừng.
7E marau, kega, Nerute kara sorge ekas adigir kari tumge, kaka nole abkoreb eparisili a detue abara teter gab mukub.
7Người giảng dạy rằng: Có Đấng quyền phép hơn ta đến sau ta; ta không đáng cúi xuống mở dây giày Ngài.
8Kaka uabi bapataiso nilam; E dali uabi bapataiso Lamar Zogolam.
8Ta làm phép báp-tem cho các ngươi bằng nước; nhưng Ngài sẽ làm phép báp-tem cho các ngươi bằng Đức Thánh Linh.
9Abele kerker ge, Iesu ekasereder Nazaretalam Galilaiage, Iesu Ioane de bapataiso abele Ioridano ge.
9Vả, trong những ngày đó, Đức Chúa Jêsus đến từ Na-xa-rét là thành xứ Ga-li-lê, và chịu Giăng làm phép báp-tem dưới sông Giô-đanh.
10E nilam ekueilu, E egremalu kotor nakesmulu, a Lamar Zogo epereda abi tumge, mokakalam dibadib:
10Vừa khi lên khỏi nước, Ngài thấy các từng trời mở ra, và Đức Thánh Linh ngự xuống trên mình Ngài như chim bò câu.
11Iako kodo mer uataba kotorlam, kega, Mama kara Uerem nasge, kaka mari sererege.
11Lại có tiếng từ trên trời phán rằng: Ngươi là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đường.
12Dudumge Lamar Zogo abi emarida soge purem.
12Tức thì Đức Thánh Linh giục Ngài đến nơi đồng vắng.
13Foate gaire gerger E soge purge emeri, Satana de abi mirem; abi dog gaire ebur marmar; angela giz abara memeg.
13Ngài ở nơi đồng vắng chịu quỉ Sa-tan cám dỗ bốn mươi ngày, ở chung với thú rừng, và có thiên sứ hầu việc Ngài.
14Emetu Ioane didbari, Iesu bakeamulu Galilaiaem, ko marau Ade ra debe merkem, kega,
14Sau khi Giăng bị tù, Đức Chúa Jêsus đến xứ Ga-li-lê, giảng Tin Lành của Đức Chúa Trời,
15Kerker ge tabarki, a Ade ra baselaia maike; uaba obazgeda, a debe merkem oituli.
15mà rằng: K” đã trọn, nước Đức Chúa Trời đã đến gần; các ngươi hãy ăn năn và tin đạo Tin Lành.
16E ekas keper dege Galilaia, E dasmer Simona a Anederea tabara keimer net gurem dikri: abelelam ui darali umele larem.
16Ngài đi dọc theo mé biển Ga-li-lê, thấy Si-môn với Anh-rê, em người, đang thả lưới dưới biển; vì hai người vốn làm nghề chài.
17Iesu ui darali daratager, kega, Kari narmili, kaka uabi depegemelu ko le asaperem.
17Đức Chúa Jêsus bèn phán cùng họ rằng: Hãy theo ta, và ta sẽ khiến các ngươi trở nên tay đánh lưới người.
18Ui darali dudum net dekaerei, a abi irmilei.
18Tức thì hai người bỏ chài lưới mà theo Ngài.
19E ko kebikebi ekasereder, E dasmer Iakobo Zebedaio ra uerem, a Ioane abara keimer, nar ge muigi, a net euelei.
19Đi một đỗi xa xa, Ngài thấy Gia-cơ, con Xê-bê-đê, với em là Giăng, đang vá lưới trong thuyền.
20E sobkak ui darali ereretikrei: ui darali Zebedaio uiaba aba dekaerei nar tumge, a gaire memeg, a abi irmilei.
20Ngài liền kêu hai người; thì họ để Xê-bê-đê, cha mình, ở lại trong thuyền với mấy người làm thuê, mà theo Ngài.
21Uiaba Kapernauma tabakeuare; sabath ge E dudum sunago tabao, a ereuerem.
21Kế đó, đi đến thành Ca-bê-na-um; nhằm ngày Sa-bát, tức thì Đức Chúa Jêsus vào nhà hội, khởi dạy dỗ tại đó.
22Tabara ereuerem uiaba damered: abelelam E uiabi ereuerem mokakalam le pardale, a nole mokakalam aotale giz.
22Chúng đều cảm động về sự dạy dỗ của Ngài, vì Ngài dạy như có quyền phép, chớ chẳng phải như các thầy thông giáo đâu.
23Nerute le nagri sumes lamar muige abele sunago; E ereretikri, kega,
23Vả, cũng một lúc ấy, trong nhà hội có người bị tà ma ám,
24Iesu Nazaretalam, keriba nako marim? nako, mama tabarki keribi adem dipit? kaka mari opasereret, Ade ra Zogo.
24kêu lên rằng: Hỡi Jêsus, người Na-xa-rét, chúng tôi với Ngài có sự gì chăng? Ngài đến để diệt chúng tôi sao? Tôi biết Ngài là ai: là Đấng Thánh của Đức Chúa Trời.
25Iesu abi daisumdalu, kega, Bamer, a teosmeda abielam.
25Nhưng Đức Chúa Jêsus nghiêm trách nó rằng: Hãy nín đi, ra khỏi người nầy.
26Abele sumes lamar abi ezagri, a au ereretikri, epe teosmed abielam.
26Tà ma bèn vật mạnh người ấy, cất tiếng kêu lớn, và ra khỏi người.
27Uiaba uridili damered, a mer atager, kega, Nalu pedali? nako abele kerkar ereuerem? abelelam sumes lamar giz E sirdam adigir, uiaba abi asoli.
27Ai nấy đều lấy làm lạ, đến nỗi hỏi nhau rằng: Cái gì vậy? Sự dạy mới sao! Người nầy lấy quyền phép sai khiến đến tà ma, mà nó cũng phải vâng lời!
28Epe sobkak E ekoseli gaire ged ge Galilaia deraueili.
28Danh tiếng Đức Chúa Jêsus tức thì đồn ra khắp cả miền xung quanh xứ Ga-li-lê.
29Uiaba teosmeda sunagolam, sobkak uiaba tabarot kemem Ioane a Iakobo metaem, abele Simona a Anederea ra meta.
29Vừa ở nhà hội ra, Chúa và môn đồ đi với Gia-cơ cùng Giăng vào nhà Si-môn và Anh-rê.
30Simona kosker ra apu uteid, gem urueri: uiaba sobkak abi etomelu.
30Vả, bà gia Si-môn đang nằm trên giường, đau rét; tức thì chúng thưa với Ngài về chuyện người.
31E keitekas abi tag erpeilu; sobkak urueri dekaida, E uiabi memeg le.
31Ngài bèn lại gần, cầm tay người đỡ dậy; bịnh rét dứt đi, và người bắt tay hầu hạ.
32Kikem, lem baraigida, uiaba abim taraisare gaire, gim le, a gaire le sumes lamar nagri.
32Đến chiều, mặt trời đã lặn, người ta đem mọi kẻ bịnh và kẻ bị quỉ ám đến cùng Ngài.
33Gaire ged uridili netate gedim op meta.
33Cả thành nhóm lại trước cửa.
34E idigiri gaire tonar gim le, a imuda sumes lamar giz; E nole gaire demoni emarida ko mer egali, abelelam uiaba abi opasereret.
34Ngài chữa lành nhiều kẻ đau các thứ bịnh, và đuổi nhiều quỉ, chẳng cho phép các quỉ nói ra, vì chúng nó biết Ngài.
35Nede be iuaokaer, E ekueilu a teosmeda, a nogutebem bakeamud, abele esorerapare.
35Sáng hôm sau trời còn mờ mờ, Ngài chờ dậy, bước ra, đi vào nơi vắng vẻ, và cầu nguyện tại đó.
36Simona, a abara boai, abi irmilare.
36Si-môn cùng đồng bạn đi tìm Ngài.
37Uiaba abi erdali, uiaba abi detager, kega, Ui uridili mari naraimeli.
37Khi kiếm được thì thưa rằng: Hết thảy đang tìm thầy.
38E uiabim detaut, kega, Minabakeuare gaire maiged, a kaka marau abele; abelelam kara dorge dali.
38Ngài phán: Chúng ta hãy đi nơi khác, trong những làng xung quanh đây, để ta cũng giảng đạo ở đó nữa; vì ấy là cốt tại việc đó mà ta đã đến.
39E marau muige gaire uiaba sunago Galilaia uridili, a demoni giz imuda.
39Ngài trải khắp xứ Ga-li-lê, giảng dạy trong các nhà hội và đuổi quỉ.
40Abim keitoabuki nerute lepera, a abim ermeder, abi detager, kega, Ese mama laglag, mama umele kari nadgiri.
40Có một người phung đến cùng Ngài, quì xuống cầu xin rằng: Nếu Chúa khứng, có thể khiến tôi sạch được.
41E abi omare, a tag itrimuda, a abi ituti, a abi detager, kega, Kara lag; ma idigiri
41Đức Chúa Jêsus động lòng thương xót, giơ tay rờ người, mà phán rằng: Ta khứng, hãy sạch đi.
42E emetu detager abele mer, sobkak lepera dekaida abielam, E idigir.
42Liền khi đó, phung lặn mất, người trở nên sạch.
43E abi mer tigri, a abi emarida,
43Tức thì Đức Chúa Jêsus cho người ra, lấy giọng nghiêm phán rằng:
44A abi detager, kega, mamor dasmer, atager kak nerute le; bakeamuda, mabu natomelu abi zogo tarim le, a ikuar gaire lu Mose mer tigri uiabim; atamelam mama emetu idigir.
44Hãy giữ chớ tỏ điều đó cùng ai; song khá đi tỏ mình cùng thầy tế lễ, và vì ngươi được sạch, hãy dâng của lễ theo như Môi-se dạy, để điều đó làm chứng cho họ.
45E bakeamuda, a ditimeda ko daratagerare, a detager deraueili, abelelam Iesu nole umer kak paret kak ekas abele ged, E soge purge emeri; gaire le abim tabakeuare abgedlam.
45Nhưng người ấy đi, đồn việc đó ra, tới đâu cũng thuật chuyện, đến nỗi Chúa Giê-xu không vào thành cách rõ ràng được nữa; song Ngài ở ngoài, tại nơi vắng vẻ; và người ta từ bốn phương đều đến cùng Ngài.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.