Mareko 14
Meriam Mir GospelsTranslation
Meriam Mir Gospels
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Neis gerger iobaru, paseka akerare, a areto nole isi kak; zogozogo le giz, a aotale giz ko deraimeri abi terpei okardarem, a abi ipit eumida.
1Hai ngày trước lễ Vượt Qua và lễ ăn bánh không men, các thầy tế lễ cả cùng các thầy thông giáo tìm mưu đặng bắt Đức Chúa Jêsus và giết đi.
2A uiaba detager, kega, Nole abele ikeli uetpur ge, iaueakai abele ged ataperetlam.
2Vì họ nói rằng: Chẳng nên làm việc nầy trong này lễ, sợ sanh sự xôn xao trong dân chúng.
3E emri Bethania, muige Simona lepera ra meta, E emri leuer aroem, nerute kosker abim tabakeam nagri alabasa tarpor, muige muro ido lu; E emetu tarpor daraturumda, E abi kerem ge epaiteredelu.
3Đức Chúa Jêsus ở tại làng Bê-tha-ni, trong nhà Si-môn là kẻ phung. Ngài đang ngồi bàn ăn, có một người đàn bà vào, đem một cái bình bằng ngọc, đựng đầy dầu cam tòng thật rất quí giá, đập bể ra mà đổ dầu thơm trên đầu Đức Chúa Jêsus.
4Uader le urker, a mer mer, kega, Nalugelam abele muro epaitered?
4Có vài người nổi giận nói cùng nhau rằng: Sao xài phí dầu thơm ấy như vậy?
5Abelelam ese emetu terapei, abele bodomalam tumem thri handed denari a ko ikuarare gaire le lu kak. A uiaba abi urker.
5Vì có thể bán dầu đó được hơn ba trăm đơ-ni-ê, mà bố thí cho kẻ khó khăn. Vậy, họ oán trách người.
6Iesu detager, kega, Nole abi ataperet kak; nalugem uaba abi bamsili? abelelam E debe dorge karim ikeli.
6Nhưng Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy để mặc người; sao các ngươi làm rầy người mà chi? Người đã làm một việc tốt cho ta.
7Abelelam le giz nole lu kak no uabi dog emeri, uaba umele uiabim debe dorge nakeli abele gerger uaba laglag; epe kaka nole niai emeri uabi dog.
7Vì các ngươi hằng có kẻ khó khăn ở cùng mình, khi nào muốn làm phước cho họ cũng được; nhưng các ngươi chẳng có ta ở luôn với đâu.
8Kosker emetu ikeli abele lu E umele: E kekiam kara gem dedered kari natkobei.
8Người đã làm điều mình có thể làm được, đã xức xác cho ta trước để chôn.
9Ageakar, kaka uabi detagereda, kega, Gaire ged uridili geseb ge ko euangelia marao, abele ko etomeret kosker ra dorge, mena ko dikiapor abim.
9Quả thật, ta nói cùng các ngươi, trong khắp cả thế gian, hễ nơi nào Tin Lành nầy được giảng ra, việc người đã làm cũng sẽ được nhắc lại để nhớ đến người.
10Nerute le, abele tuelf lelam, nei Iuda Isakariota, E bakeam uiabim zogozogo le giz, ko abi keserkeser uiabim.
10Bấy giờ, Giu-đa ỗch-ca-ri-ốt là một trong mười hai sứ đồ, đến nơi các thầy tế lễ cả, để nộp Đức Chúa Jêsus cho.
11Uiaba asereda, uiaba sererge, a abi detager ko mani abi ikuar. E deraimeri ko Iesu keserkeser.
11họ vui lòng mà nghe và hứa cho nó tiền bạc; rồi Giu-đa tìm dịp tiện để nộp Ngài.
12Abele kekiam gerger areto nole isi kak, abele kerker uiaba paseka ipit, abara kaimeg giz abi detager, kega, Nade uteb mama lag keriba ko paseka ero?
12Ngày thứ nhất về lễ ăn bánh không men, là ngày giết chiên con làm lễ Vượt Qua, các môn đồ thưa cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Thầy muốn chúng tôi đi dọn cho thầy ăn lễ Vượt Qua tại đâu?
13E neis abara kaimeg giz namariklu, a uiabi detager, kega, Ua bakeamulei utebem, nerute le uabi obapit a nini tarpor erpei: abi irmilei;
13Ngài sai hai môn đồ đi, và dặn rằng: Hãy vào thành, sẽ gặp một người xách vò nước; cứ theo sau,
14E abele ge badari, uaba meta kemle detagereda, kega, Kole de detager, Nade suble uteb, kaka a kara kaimeg giz paseka eroarem?
14hễ người vào nhà nào, các ngươi sẽ nói cùng chủ nhà ấy rằng: Thầy phán: Cái phòng ta sẽ dùng ăn lễ Vượt Qua với môn đồ ta ở đâu?
15Ege E uabi degeredi nerut au uteb kotor, emetu derser a eseger: a uaba ko derser keribim.
15Chính kẻ đó sẽ chỉ cho các ngươi một cái phòng lớn trên lầu có đồ đạc sẵn sàng, hãy dọn tại đó cho chúng ta.
16Abara kaimeg giz neis bakeamulei, a uteb ge tabarki, a erdarei mokakalam E uiabi daratager; epe uiaba paseka derser.
16Vậy, hai môn đồ đi ra mà vào thành, gặp mọi điều như lời Ngài đã phán, rồi dọn lễ Vượt Qua.
17Kikem Iesu a tuelf le kei tabarkeda.
17Buổi chiều, Ngài đến với mười hai sứ đồ.
18Uiaba baido, a leuer eroare, Iesu detager, kega, Ageakar, kaka uabi detagereda, kega, Nerute uabielam kari keserkeser, abele le kari dog eroli.
18Đang ngồi ăn, Đức Chúa Jêsus phán rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, trong vòng các ngươi có một kẻ ngồi ăn cùng ta, sẽ phản ta.
19Uiaba ditimeda okasosok, a abi detager, kega, Nako kaka? a nerute kega, Nako kaka?
19Các môn đồ bèn buồn rầu lắm, cứ lần lượt mà thưa cùng Ngài rằng: Có phải tôi chăng?
20Iesu uiabim detaut, kega, Nerute uaba tuelf lelam, le itili kari dog tanelu ge.
20Ngài đáp rằng: Aáy là một trong mười hai người, là người thò tay vào mâm cùng ta.
21Le la Uerem bakeamulu mokakalam abim detali: epe uaiai abele le Le la Uerem keserkeser! debele abele le nole aosmer kak.
21Vì Con người đi, y như lời đã chép về Ngài; song khốn cho kẻ phản Con người! Thà nó chẳng sanh ra thì hơn.
22Uiaba eroare, Iesu areto ekao, a esoao, a itur a uiabi nakuarare, a daratagerare, kega, Tekao aroem: kara gem ike.
22Khi đang ăn, Đức Chúa Jêsus lấy bánh, tạ ơn, đoạn bẻ ra trao cho các môn đồ, mà phán rằng: Hãy lấy, nầy là thân thể ta.
23E tanelu ekao, a esoao, a uiabi nakuarare: a ui uridili areem.
23Ngài lại cầm chén, tạ ơn, rồi trao cho các môn đồ, và ai nấy đều uống.
24E uiabi daratagereda, kega, Kara mam ike, abele kerkar gelar, epaitered uiabim gaire dordor le.
24Ngài phán rằng: Nầy là huyết ta, huyết của sự giao ước đổ ra cho nhiều người.
25Ageakar, kaka uabi detagereda, kega, Kaka nole iako aree kak abele uina turumlam, kekiam tabarki abele gerger kaka ko aree kerkar uina Ade ra baselaia ge.
25Quả thật, ta nói cùng các ngươi, ta không uống trái nho nầy nữa, cho đến ngày ta sẽ uống trái nho mới trong nước Đức Chúa Trời.
26Uiaba emetu uedakiriare nerute ued, uiaba Oliua paserem bakeamuda.
26Khi đã hát thơ thánh rồi, Chúa và môn đồ đi ra đặng lên núi ô-li-ve.
27Iesu uiabi daratagereda, kega, Uaba uridili ko ezigmada karielam abele ki ge: emetu detali, kega, Kai le mamoe asesered ipit, epe mamoe giz kepu bamarida.
27Đức Chúa Jêsus phán cùng môn đồ rằng: Hết thảy các ngươi sẽ gặp dịp vấp phạm; vì có chép rằng: Ta sẽ đánh kẻ chăn chiên, thì bầy chiên sẽ tan lạc.
28Emetu kaka eded akaida, kaka kekiam bakeam Galalaiem a uaba keubu.
28Nhưng khi ta sống lại rồi, ta sẽ đi đến xứ Ga-li-lê trước các ngươi.
29Peteru abi detager, kega, Ese ui uridili marim ezigmada, kai nolea.
29Phi-e-rơ thưa rằng: Dầu mọi người vấp phạm vì cớ thầy, nhưng tôi chẳng hề làm vậy.
30Iesu abi detager, kega, Ageakar, kaka mari detager, kega, Thri ma ko kari nasared, abele ki ge, a kimiar faul nole neisi ereretikri kak.
30Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay, cũng trong đêm nay, trước khi gà gáy hai lượt, ngươi sẽ chối ta ba lần.
31E iako elele detager, kega, Ese kaka mari kemem naumilu, kaka nole mari asared kak. Uiaba uridili daratagereda abkoreb.
31Nhưng Phi-e-rơ lại thưa cách quả quyết hơn rằng: Dầu tôi phải chết cùng thầy, tôi cũng chẳng chối thầy đâu. Hết thảy các môn đồ khác cũng đều nói như vậy.
32Uiaba nerute utebem tabaruda, nei Gethesemane: E abara kaimeg giz daratagereda, kega, Uaba bameri ike, kai esorerapare.
32Kế đó, đi đến một nơi kia, gọi là Ghết-sê-ma-nê, Đức Chúa Jêsus phán cùng môn đồ rằng: Các ngươi hãy ngồi đây, đợi ta cầu nguyện.
33E Peteru, a Iakobo, a Ioane taraisare, a ditimeda ko okasosok, a nerkep okabatageli;
33Ngài bèn đem Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng đi, thì Ngài khởi sự kinh hãi và sầu não.
34E uiabi daratagereda, kega, Kara mar au asiasi bakedid abele eud; ua ge bamer, a derser.
34Ngài phán cùng ba người rằng: Linh-hồn ta buồn rầu lắm cho đến chết; các ngươi hãy ở đây, và tỉnh thức.
35E kebi kebi bakeam, a seb ge etkobeilu, a esorerapare, ko abele haua abielam abi, ese umele.
35Rồi Ngài đi một đỗi xa hơn, sấp mình xuống đất mà cầu nguyện rằng: nếu có thể được, xin giờ nầy qua khỏi mình.
36E detager, kega, Aba, Baba, mama umele gaire lu eseemuda; karielam ekao abele tanelu; epe nole kara lag ikeli mabara lag ikeli.
36Ngài rằng: A-ba lạy Cha, mọi việc Cha làm được cả; xin Cha cất chén nầy khỏi con; nhưng không theo điều con muốn, mà theo điều Cha muốn.
37E ko akomed a uiabi erdali uteid, E Peteruim detager, kega, Simona, ma uteid? ma nole saserim kak ko derser netat haua ge?
37Rồi Ngài trở lại, thấy ba người ngủ; bèn phán cùng Phi-e-rơ rằng: Si-môn, ngủ ư! Ngươi không thức được một giờ sao?
38Ua ko derser, a esorerapare, ueakai uaba nole mirem barot: lamar saserim, epe gem gebgeb.
38Hãy tỉnh thức và cầu nguyện, để các ngươi khỏi sa vào chước cám dỗ; tâm thần thì muốn lắm, mà xác thịt thì yếu đuối.
39Iesu iako bakeam ko esorerapare, a detager abele netat mer.
39Ngài lại đi lần nữa, và cầu nguyện, y như lời trước.
40E iako takomeda, a uiabi erdali iako uteid, abelelam uiaba pone beber, a uiaba umer kak nerute mer abi detaut.
40Ngài trở lại, thấy môn đồ còn ngủ, vì con mắt đã đừ quá; và không biết trả lời cùng Ngài thể nào.
41Iesu thri tabakeam, a uiabi daratagereda, kega, Ua ko uteid, a nerbazi; sina, haua ike; dasmer, emetu Le la Uerem keserkeser uiabim gaire uit le giz.
41Ngài trở lại lần thứ ba, phán cùng môn đồ rằng: Bây giờ các ngươi ngủ và nghỉ ngơi ư! thôi, giờ đã tới rồi; nầy, Con người hầu bị nộp trong tay kẻ có tội.
42Bako, mi nabakeuare; dasmer, E maike le kari keserkeser.
42Hãy chờ dậy, đi hè; kìa, đứa phản ta đã đến gần.
43E abele mer detager, sobkak Iuda tabarki, nerute le tuelf lelam, a abi kemem gaire le uridili teibur tulik a gabagaba taraisare, uiabielam zogozogo le giz, a aotale giz, a au le giz.
43Ngài đang còn phán, tức thì Giu-đa, là một trong mười hai sứ đồ thoạt đến với một toán đông cầm gươm và gậy, bởi các thầy tế lễ cả, các thầy thông giáo, và các trưởng lão phái đến.
44Abele le abi keserkeser uiabim daratagereda nerute atamelam, kega, Le kaka abi eskos, E dali; uaba abi erpeirare, a elele tegardare.
44Vả, đứa phản Ngài đã cho chúng dấu hiệu nầy: Hễ tôi hôn ai, ấy là người đó; hãy bắt lấy và điệu đi cho cẩn thận.
45E sobkak tabarki, E abim bakeam, a abi detager, kega, Rabi ae; a abi eskos.
45Vậy, khi Giu-đa đến rồi, liền lại gần Ngài mà nói rằng: Lạy thầy! Rồi nó hôn Ngài.
46Uiaba abim tag giz itrimuda, a abi terpei.
46Chúng bèn tra tay bắt Đức Chúa Jêsus.
47Nerute le uiabielam tekue, a teibur aososo tulik iseda, a kole zogozogo le giz ra memeg le ipit, a abara laip ismilu.
47Có một người trong những kẻ ở đó rút gươm ra, đánh một đứa đầy tớ của thầy cả thượng phẩm, chém đứt tai đi.
48Iesu uiabi daratagereda, kega, Nako, ua tabakeuare karim eruam le ise, a gaire teibur aososo tulik, a gaire gabagaba kari tais?
48Đức Chúa Jêsus cất tiếng phán cùng chúng rằng: Các ngươi đem gươm và gậy đến bắt ta như ta là kẻ trộm cướp.
49Kaka uabi dog gaire gerger giz zogo meta ge okadeskeda, uaba nole kari arpeir kak; bakedilu eski abele zogo mer detali.
49Ta hằng ngày ở giữa các ngươi, giảng dạy trong đền thờ, mà các ngươi không bắt ta; nhưng điều ấy xảy đến, để lời Kinh Thánh được ứng nghiệm.
50Uiaba uridili abi dekaerti, a koreder bameri.
50Bấy giờ, mọi người đều bỏ Ngài và trốn đi cả.
51Nerute makeriam abi irmili, E aole a uali lino batkam: a makeriam giz abi erpeirare;
51Có một người trẻ tuổi kia theo Ngài, chỉ có cái khăn bằng gai trùm mình; chúng bắt người.
52E uali lino igilu, a aole uiabielam koreder ge bakeamulu.
52Nhưng người bỏ khăn lại, ở truồng chạy trốn khỏi tay chúng.
53Uiaba Iesu datkimuardare abim kole zogozogo le giz: gaire kole zogozogo le giz netate gedim abim, a aotale giz.
53Chúng điệu Đức Chúa Jêsus đến nơi thầy cả thượng phẩm, có hết thảy thầy tế lễ cả, trưởng lão, và thầy thông giáo nhóm họp tại đó.
54A Peteru muriz ge abi irmili, abele uteb meta ge, kole zogozogo le giz ra meta; E kemem emeri uiabi dog memeg le giz, a abi ur ge gebaugeli.
54Phi-e-rơ theo sau Ngài xa xa, cho đến nơi sân trong của thầy cả thượng phẩm; rồi ngồi với quân lính gần đống lửa mà sưởi.
55Gaire kole zogozogo le giz, pako gaire tarim le giz deraimerare abielam nerute tonar, ko abi ipit eumilu; epe nole ardar kak.
55Vả, các thầy tế lễ cả, cùng cả tòa công luận đều tìm chứng gì để nghịch cùng Đức Chúa Jêsus đặng giết Ngài, song không kiếm được chi hết.
56Dordor le abielam bes mer detager, a dordor tonar mer uiaba detagerare.
56Vì có nhiều kẻ làm chứng dối nghịch cùng Ngài; nhưng lời họ khai chẳng hiệp nhau.
57Uader le bako, a abielam bes mer detagerare, kega,
57Bấy giờ có mấy người đứng lên làm chứng dối nghịch cùng Ngài rằng:
58Keriba asereda E detager, kega, Kaka, ko abele meta ezageri, tagu ikeli, a thri gerger kaka ko nerut ikeli, a nole tagu ikeli.
58Chúng tôi có nghe người nói: Ta sẽ phá đền thờ nầy bởi tay người ta cất lên, khỏi ba ngày, ta sẽ cất một đền thờ khác không phải bởi tay người ta cất.
59Epe nole netate gab uiaba mer detagerare.
59Song về điều nầy, lời chứng của họ cũng chẳng hiệp nhau nữa.
60Abele kole zogozogo le giz eipu tekue, a Iesuim eutumer, kega, Nako ma nole mer etkalu? nako mer uiaba tais marielam?
60Khi ấy, thầy cả thượng phẩm đứng dậy giữa hội đồng, tra hỏi Đức Chúa Jêsus mà rằng: Ngươi chẳng đối đáp chi hết về những điều các kẻ nầy cáo ngươi sao?
61Epe E bazeguar, a nole mer kak. Ege kole zogozogo le giz iako abim eutumer, a abi detager, kega, Ma Keriso nali, Aosperera ra Uerem me?
61Nhưng Đức Chúa Jêsus làm thinh, không trả lời chi hết. Thầy cả thượng phẩm lại hỏi: Aáy chính ngươi là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời đáng ngợi khen phải không?
62Iesu detaut, kega, Kakanali; uaba ko dasmer Le la Uerem adigir tuter tag emeri, a ko tabakeam gaire kotor baz giz ge.
62Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta chính phải đó; các ngươi sẽ thấy Con người ngồi bên hữu quyền phép Đức Chúa Trời, và ngự giữa đám mây trên trời mà đến.
63Abele kole zogozogo le giz tababu tabara am uali etoat, a detager, kega, Epe nalu nerute merume le?
63Bấy giờ thầy cả thượng phẩm xé áo mình ra mà rằng: Chúng ta có cần kiếm chứng cớ khác nữa làm chi?
64Uaba emetu asereda Adim op mer detagereda; nalu uaba dikiapor? Uiaba uridili mer nakesmur, kega, Abkoreb E ko eumida.
64Các ngươi có nghe lời lộng ngôn chăng? Các ngươi nghĩ thế nào: Ai nấy đều đoán Ngài đáng chết.
65Uader le ditimeda abi mos itu, a abara op demdare, a abi detapiare, a abi detager, kega, Ma ko perofeta; a memeg le giz abi ipitare tag de.
65Có kẻ nhổ trên Ngài, đậy mặt Ngài lại, đấm Ngài, và nói với Ngài rằng: Hãy nói tiên tri đi! Các lính canh lấy gậy đánh Ngài.
66A Peteru lokod ge emeri, nerute neur, abele kole zogozogo le giz ra memeg, tabakeam;
66Phi-e-rơ đang ở dưới nơi sân, có một đầy tớ gái của thầy cả thượng phẩm đến,
67E Peteru erdali ur ge gebaugeli, E abi dasmer, a detager, kega, Mama nerute le kemem Iesu.
67thấy Phi-e-rơ đang sưởi, ngó người mà rằng: ngươi trước cũng ở với Jêsus Na-xa-rét!
68Epe E asared, kega, Kaka nole umer kak, kaka nole opasereret kak abele lu ma detager. E osmeda abele maisu ge; a kimiar faul ereretikri.
68Nhưng người chối rằng: Ta không biết, ta không hiểu ngươi nói chi. Đoạn, người bước ra tiền đường, thì gà gáy.
69Neur memeg le iako abi erdali, a ditimeda detager uiabim akuelem, kega, E dali nerute uiabielam.
69Đầy tớ gái đó thấy người, lại nói cùng những người ở đó rằng: Người nầy cũng là bọn đó.
70E iako asared. Nole uapum kak, gaire akuelem iako abi detager, kega, Ageakar ma nerute le uiabielam, ma Galilaia le, ma uiabim netate kodomer.
70Nhưng người lại chối một lần nữa. Khỏi một chặp, những kẻ đứng đó nói cùng Phi-e-rơ rằng: Chắc thật, ngươi cũng là bọn đó, vì ngươi là người Ga-li-lê.
71Peteru ditimeda adud mer egali, kega, Kaka nole umer kak abele le uaba detager.
71Người bèn rủa mà thề rằng: Ta chẳng hề quen biết với người mà các ngươi nói đó!
72Kimiar faul neisiem ereretikri. A Peteru dikiapor abele mer Iesu abi detager, kega, Kimiar faul nole neisi ereretikri, ma ko thri kari nasared. E dikiapor, a E bazoli.
72Tức thì gà gáy lần thứ hai; Phi-e-rơ bèn nhớ lại lời Đức Chúa Jêsus đã phán rằng: Trước khi gà gáy hai lượt, ngươi sẽ chối ta ba lần. Người tưởng đến thì khóc.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.