Mareko 11
Meriam Mir GospelsTranslation
Meriam Mir Gospels
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Uiaba maike Ierusalema, a Bethefage, a Bethania, abele paser ge Oliua, Iesu namarida neisi abara kaimeg giz, a uiabim detager, kega,
1Khi tới gần thành Giê-ru-sa-lem, bên làng Bê-pha-giê và làng Bê-tha-ni, ngang núi ô-li-ve, Đức Chúa Jêsus sai hai môn đồ đi,
2Ua bakeamlam abele ged uaba opem: ua abele tabarki, ua ko dasmeram asina ra uerem didbarda, abi sor agimur kak; abi detue, karim tegared.
2và phán rằng: Hãy đi đến làng ngay trước mặt các ngươi; vừa khi vào đó, thấy một con lừa con đang buộc, chưa có ai cỡi; hãy mở nó ra, dắt về cho ta.
3Ese nerute le uabi detager, kega, Nalu uaua ikeli abele? ua detautam, Opole abi laglag: E sobkak abi emarida.
3Hoặc có ai hỏi các ngươi rằng: Vì sao làm điều đó? hãy đáp lại: Chúa cần dùng nó, tức thì họ sẽ cho dắt lừa về đây.
4Ui bakeamulei, a asina ra uerem erdali abele mai gab ge esakri didbare; ui abi detue.
4Hai người đi, thì thấy lừa con đang buộc ở ngoài trước cửa, chỗ đường quẹo, bèn mở ra.
5Uader le abele ekue, ui detager, kega, Nalugem ua asina ra uerem detue?
5Có mấy kẻ trong những người ở đó hỏi rằng: Các ngươi mở lừa con đó làm chi?
6Ui ge uiabi detagereda mokakalam Iesu mer tigri: epe uiaba ui namariklam.
6Hai người trả lời theo Đức Chúa Jêsus đã dặn; thì họ để cho đi.
7Uiaba asina ra uerem Iesuim egardale, a uiaba dordor am uali abi sorge dikmerikare; a E abi sorge egimulu.
7Hai người dắt lừa con về cho Đức Chúa Jêsus, lấy áo mình trải trên nó; rồi Ngài cỡi lên.
8Gaire le lakub uiaba dordor am uali gab ge esegarare: uader lu tam ismi, a gab ge esegarare.
8Nhiều người trải áo mình trên đường; lại có kẻ rải nhánh cây chặt trong đồng ruộng.
9Uiaba kekiam le, a uiaba armi le, ereretikri, kega, Hosana; Uerkab abele le Opole ra nei tabarki:
9Người đi trước kẻ theo sau đều la lên rằng: Hô-sa-na! Đáng khen ngợi cho Đấng nhân danh Chúa mà đến!
10Uerkab Dauida ra baselaia, meriba aba, tabarki Opole ra nei: Hosana gaire lu tum ge.
10Phước cho nước đến, là nước vua Đa-vít, tổ phụ chúng ta! Hô-sa-na ở trên nơi rất cao!
11Iesu Ierusalema tabarki, a zogo meta ge badari; E deraueilu dasmer gaire lu uridili; kikem E Bethania nakaseredi, kemem gaire tuelf le.
11Đức Chúa Jêsus vào thành Giê-ru-sa-lem, đến nơi đền thờ; đoạn, liếc mắt xem mọi sự chung quanh, thì trời đã tối, Ngài bèn ra, đặng đi tới làng Bê-tha-ni với mười hai sứ đồ.
12Iuaokaer, uiaba tabakeuare Bethanialam, E uerer ge.
12Sáng ngày, khi đã lìa làng Bê-tha-ni rồi, thì Ngài đói.
13E suke erdalu muriz ge lam nagri, E bakeam dasmer, ese turum nagri: E abele tabarki, E no lam dasmer; nole tabarki kerker turum.
13Vừa thấy đàng xa một cây vả có lá, Ngài đến đó xem hoặc có chi chăng; song, tới gần rồi, chỉ thấy có lá mà thôi, vì bấy giờ không phải mùa vả.
14Ege E suke detager, kega, Nole le mara turum aro kak niai karem. Abara kaimeg giz asereda.
14Ngài bèn cất tiếng phán cùng cây vả rằng: Chẳng hề có ai ăn trái của mầy nữa! Các môn đồ đều nghe lời ấy.
15Uiaba Ierusalema ge tabarki; Iesu zogo meta ge badari, a ditimeda uiabi daratirieda gaire le lu terapeirare zogo meta muige, a bau lu terapeirare eraskida, a uiaba dibadib terapeirare, uiaba gaire sik eraskida;
15Đoạn, đến thành Giê-ru-sa-lem; Đức Chúa Jêsus vào đền thờ, đuổi những kẻ buôn bán ở đó, lại lật đổ bàn những người đổi bạc, và ghế những kẻ bán bò câu.
16Pako E nole nerute le amari kak tanelu tais zogo meta ge.
16Ngài cấm không cho ai được đem đồ gì đi ngang qua đền thờ.
17Iesu uiabi ereuerem, kega, Nako, nole autar kak, Ko kara meta nei atker, kega, Esorerapare meta uiabim gaire le uridili? epe uaba emetu depegereda abele mokakalam baker kur ge uiabim gaire eruam le giz.
17Rồi Ngài dạy dỗ chúng mà rằng: há chẳng có lời chép: Nhà ta sẽ gọi là nhà cầu nguyện của muôn dân hay sao? Nhưng các ngươi đã làm thành cái hang trộm cướp.
18Aotale giz asereda, a zogozogo le giz, uiaba deraimer ko abi ipit: uiaba abi geum, abelelam gaire le lakub abara ereuer damereda.
18Các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo nghe mấy lời, bèn kiếm cách diệt Ngài; vì họ sợ Ngài, tại cả đoàn dân cảm động sự dạy dỗ của Ngài lắm.
19Gaire kikem, E osmeda ab gedelam.
19Đến chiều, Ngài và môn đồ ra khỏi thành.
20Idim ge, uiaba gab ge ekasered maike abele suke, ui dasmer abele suke ekeamulu giz ge ditimeda.
20Sáng hôm sau, khi đi ngang qua, thấy cây vả đã khô cho tới rễ;
21Peteru dikiapor, epe abim detager, kega, Rabi, dasmer, abele suke mama desauersili, abele ekeamulu.
21bấy giờ Phi-e-rơ nhớ lại chuyện đã qua, thưa cùng Ngài rằng: Thầy, coi kìa! Cây vả thầy đã rủa nay khô đi rồi.
22Iesu uiabim detaut, kega, Ua ko Adim oituli.
22Đức Chúa Jêsus cất tiếng phán rằng: Hãy có đức tin đến Đức Chúa Trời.
23Ageakar, kaka uabi detagereda, kega, Ese nerute le abele paser ge mer detager, kega, Ma eupumar, a gur ge baraigida; a nole abara nerkep emarili, E ko egared abele mer E detager, oitulilam.
23Quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai sẽ biểu hòn núi nầy rằng: Phải cất mình lên, và quăng xuống biển, nếu người chẳng nghi ngại trong lòng, nhưng tin chắc lời mình nói sẽ ứng nghiệm, thì điều đó sẽ thành cho.
24Abelelam, kaka uabi detagereda, kega, Gaire lu uridili uaba damos esorerapare ge, oituli uaba ko nagri, epe uaba ko nagri.
24Bởi vậy ta nói cùng các ngươi: Mọi điều các ngươi xin trong lúc cầu nguyện, hãy tin đã được, tất điều đó sẽ ban cho các ngươi.
25Ua taba ko esorerapare, ese nerute le uabi dedkoeda, abi emariklu; iako uaba Aba kotor ge uaba uit emarik.
25Khi các ngươi đứng cầu nguyện, nếu có sự gì bất bình cùng ai, thì hãy tha thứ, để Cha các ngươi ở trên trời cũng tha lỗi cho các ngươi.
26Ese uaba nole emarik, iako uaba Aba, kotor ge, nole uabi uit giz emarik.
26Song nếu không tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi ở trên trời cũng sẽ không tha lỗi cho các ngươi.
27Uiaba iako Ierusalema takomeda: E muige zogo meta ekasereder, epe zogozogo le giz abim tabakeuare, a aotale giz, a au le giz;
27Chúa và môn đồ trở lại thành Giê-ru-sa-lem. Ngài đang đi dạo trong đền thờ, thì các thầy tế lễ cả, các thầy thông giáo, và các trưởng lão tới gần Ngài,
28A abi detager, kega, Nalu abele sirdam mama ikeli abele gaire lu? a nete le marim ikuar abele sirdam ko mama ikeli abele gaire lu?
28mà hỏi rằng: Thầy lấy quyền phép nào làm những điều nầy, hoặc ai đã cho thầy quyền phép làm những điều ấy?
29Iesu uiabi detager, kega, Kai uabim eutumer nerute mer, ese ua kari natautare, kaka ko uabi detagerare abele sirdam kaka ikeli abele gaire lu.
29Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta cũng hỏi các ngươi một câu; hãy trả lời cho ta, thì ta sẽ nói cho các ngươi biết ta làm những điều đó bởi quyền phép nào.
30Ioane ra bapataiso, nako kotorlam, nako lelam? kari nataut.
30Phép báp-tem của Giăng đến bởi trên trời hay là bởi người ta? Hãy trả lời cho ta đi.
31Ege uiaba mer atagere, kega, Ese meriba detagerare, kega, Kotorlam; ege E detager, kega, Nalugelam uaba nole abi agared kak?
31Vả, họ bàn với nhau như vầy: Nếu chúng ta nói: Bởi trên trời, thì người sẽ nói rằng: Vậy, sao các ngươi không tin lời Giăng?
32Ese meriba detagerare, kega, Lelam: uiaba geum gaire lelam, abelelam gaire le uridili Ioane egared mokakalam perofeta kar.
32Bằng chúng ta nói trái lại: Bởi người ta? Họ sợ dân chúng, vì ai nấy đều tin Giăng thật là Đấng tiên tri.
33Ege uiaba Iesuim detaut, kega, Keriba umer kak. Iesu uiabim detager, kega, Kaka nole uabi atager kak abele sirdam gaire lu kaka ikeli.
33Nên họ thưa lại cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Chúng tôi không biết. Đức Chúa Jêsus bèn phán cùng họ rằng: Ta cũng không nói cho các ngươi biết ta nhờ quyền phép nào mà làm những điều nầy.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.