Luka 7
Meriam Mir GospelsTranslation
Meriam Mir Gospels
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Ege abara mer uridili eseamulu, abele ged uiaba asorare, epe E iako bakeamulu Kaperenauma ge.
1Khi Đức Chúa Jêsus rao giảng xong mọi lời ấy trước mặt dân chúng nghe rồi, thì Ngài vào thành Ca-bê-na-um.
2Ege abele le, asesered netat handed, abara memeg le E nagri gim maike eumid, E abim au omare.
2Vả, một thầy đội kia có đứa đầy tớ rất thiết nghĩa đau gần chết,
3Ege E asoli Iesu pedali, E namarid aule giz Iudaia Iesuim damosi E bakeam abara meta ge, E lagelage idigiri gim le, abara memeg le.
3nghe nói Đức Chúa Jêsus, bèn sai mấy trưởng lão trong dân Giu-đa xin Ngài đến chữa cho đầy tớ mình.
4Ege uiaba tabakeauare Iesuim, epe uiaba au elele damosi, kega, Abkoreb, abele le, ma ko ikeli abara lag;
4Mấy người đó đến cùng Đức Chúa Jêsus, mà nài xin rằng: Thầy đội thật đáng cho thầy nhậm điều nầy;
5Abelelam E au omare meriba ged, ege E ikeli keriba sunago.
5vì người yêu dân ta, và đã cất nhà hội cho chúng tôi.
6Epe Iesu bakeamulu gaire le abi kemem. Ege E maike meta ge, epe le, asesered netat handed le, E namarid abara boai Iesuim, kega, Opole, nolea abkoreb ma barot muige kara meta ge.
6Đức Chúa Jêsus bèn đi với họ. Khi Ngài gần tới nhà, thầy đội sai bạn hữu mình đi thưa Ngài rằng: Lạy Chúa, xin đừng tự phiền đến thế, vì tôi không đáng rước Chúa vào nhà tôi.
7Abele lu kaka dikiapore nolea abkoreb kak bakeam marim; debele no mara mer, ueakai kara memeg le adem idigiri abara gim.
7Tôi cũng nghĩ mình không đáng đến cùng Chúa; song xin phán một lời, thì đầy tớ tôi sẽ được lành.
8Abelelam kaka nerute le E sirdam karim, kaka sirdam uader ares le: ese kaka abi detager nerute le, Ma bakeam, E bakeam; pako nerute le, Tabakeam, E tabakeam; pako kara memeg le, Ma ikeli abele lu, E ikeli.
8Vì chính mình tôi là người thuộc dưới quyền kẻ khác, tôi cũng có quân lính dưới quyền tôi; tôi biểu tên nầy rằng: Hãy đi! thì nó đi; biểu tên khác rằng: Hãy đến! thì nó đến; và biểu đầy tớ tôi rằng: Hãy làm việc nầy! thì nó làm.
9Ege Iesu asoli abele lu, E abi damared; E egreemalu, E uiabim detager, gaire le lakub uiaba abi irmili, Kaka uabim detager, Kaka nole umer kak nerute Isaraela le nagri au oituli mokakalam.
9Đức Chúa Jêsus nghe những lời ấy, lấy làm lạ cho thầy đội, bèn xây lại cùng đoàn dân theo mình, mà phán rằng: Ta nói cùng các ngươi, dầu trong dân Y-sơ-ra-ên, ta cũng chưa thấy một đức tin lớn dường ấy.
10Ege uader namarid, a uiaba akomed meta ge, uiaba erdali abele memeg le, E gimgim, abara gim emetu akaida.
10Những kẻ sai đến trở về nhà, thấy đầy tớ lành mạnh.
11Kebi gerger, E bakeamulu nerute uteb ge, nei atker Naina; ege uader abara kaimeg giz E uiabi kemem, pako gaire le lakub.
11Bữa sau, Đức Chúa Jêsus đi đến một thành, gọi là Na-in có nhiều môn đồ và một đoàn dân đông cùng đi với Ngài.
12Ege E maike te abele uteb ge, dasmer, uiaba bakuare nerute le emetu eumid, abara apu E netat abara uerem, abara kimiar emetu eumid: abele ged gaire le emeri abi dog.
12Khi Ngài đến gần cửa thành, họ vừa khiêng ra một người chết, là con trai một của mẹ góa kia; có nhiều người ở thành đó đi đưa với bà góa ấy.
13Ege Opole abim erdali, E au omare a au nasenase abim, ege abi detager, Ma nolea ezoli.
13Chúa thấy, động lòng thương xót người, mà phán rằng: Đừng khóc!
14Ege E bakeam maike, E itut abele bao; epe, uiaba bakuare le eumid, uiaba ekue. E abi detager, Makeriam, kaka marim detager, Ma ekue.
14Đoạn, Ngài lại gần, rờ quan tài, thì kẻ khiêng dừng lại. Ngài bèn phán rằng: Hỡi người trẻ kia, ta biểu ngươi chờ dậy.
15Epe, abele le eumid, E emeri, E mer etkalu. Epe E ikuar abara apu.
15Người chết vùng ngồi dậy và khởi sự nói. Đức Chúa Jêsus giao người lại cho mẹ.
16Ege uiaba uridili au geum: ege uiaba Adim naospered, kega, Ege E ekue meribim abele perofeta, E au kale; Ade E dasmer abara ged.
16Ai nấy đều sợ hãi, và ngợi khen Đức Chúa Trời rằng: Có đấng tiên tri lớn đã dấy lên giữa chúng tôi, và Đức Chúa Trời đã thăm viếng dân Ngài.
17Ege abele mer abielam deraueli Iudaia uridili, pako nerute apek.
17Tin nầy đồn ra khắp xứ Giu-đê, và khắp xứ xung quanh nơi đó nữa.
18Ege Ioane ra kaimeg giz gaire lu uridili uiabi abi etomertare.
18Môn đồ của Giăng trình lại hết cả chuyện đó với người.
19Epe Ioane dabgiri abara kaimeg giz neis le, ege uiabi namariklu Opoleim, kega, Nako mama le tabakeamu, nako keriba naokaili nerute le?
19Người bèn gọi hai môn đồ mình, sai đến thưa cùng Chúa rằng: Thầy có phải là Đấng phải đến, hay chúng tôi còn phải đợi Đấng khác?
20Ege ui bakeamulei Iesuim, kega, Ioane Bapataiso keribim namarid marim, E detager, kega, Nako mama le tabakeam, nako keriba naokaili nerute le?
20Hai người đã đến cùng Đức Chúa Jêsus, thưa rằng: Giăng Báp-tít sai chúng tôi đến hỏi thầy: Thầy có phải là Đấng phải đến, hay chúng tôi còn phải đợi Đấng khác?
21Abele gerger gaire gim le E idigiri, pako asiasi gim, pako demoni giz; pako ikuar ueakai gaire le pone sadmer uiaba bakaerti.
21Vả, chính giờ đó, Đức Chúa Jêsus chữa lành nhiều kẻ bịnh, kẻ tàn tật, kẻ mắc quỉ dữ, và làm cho nhiều người đui được sáng.
22Epe Iesu uiabim detaut, kega, Ua bakeamulam, uaba etomeret Ioaneim gaire lu uaba emetu erdali, pako lu uaba emetu asoli; sadmer bakaerti, pako ibibi le emetu ekasereder, pako lepera emetu ogdirup, a grip eudgamad emetu diski asoli, uader eumid uiaba ko ekuei, a debe mer marau uiabim uader le nolea lu kak.
22Đoạn, Ngài đáp rằng: hãy về báo cho Giăng sự các ngươi đã thấy và đã nghe: kẻ đui được sáng, kẻ què được đi, kẻ phung được sạch, kẻ điếc được nghe, kẻ chết được sống lại, Tin Lành đã rao giảng cho kẻ nghèo.
23E uerkab le, nolea mudi mer karim.
23Phước cho kẻ không vấp phạm vì cớ ta!
24Ege Ioane ra kaimeg giz ui bakeamulei, epe E marau gaire le lakub Ioaneim, Nalu lu uaba bakeauare sumez ge erdalare? nako abele mebud uag demali?
24Hai người của Giăng sai đến đã đi rồi, Đức Chúa Jêsus mới phán cùng đoàn dân về việc Giăng rằng: Các ngươi đã đi xem chi nơi đồng vắng? Xem cây sậy bị gió rung chăng?
25Nalu lu uaba bakeauare erdalare? nako le am uali gebgeb? Dasmer, uader am debe uali, pako debe leuer eroare, uiaba mamoro emeri opole ra meta ge.
25Lại các ngươi còn đi xem gì? Xem người ăn mặc tốt đẹp chăng? Kìa, những người mặc áo sang trọng, và ăn ở sung sướng, thì ở trong đền đài các vua!
26Nalu lu uaba bakeauare erdalare? nako perofeta? Ageakar, kaka uabi detager, E aule perofeta giz.
26Song, rốt lại, các ngươi đi xem gì? Xem một đấng tiên tri ư? Phải, ta nói, một đấng trọng hơn tiên tri nữa.
27Abelelam, E pedali, abele mer detali abim, Dasmer, kaka emarid kara merkem le mara opem, E paret mara gab mara opem.
27Aáy về đấng đó mà có lời chép rằng: Nầy, ta sẽ sai sứ ta đến trước mặt ngươi, Người sẽ dọn đường trước ngươi.
28Kaka uabim detager, Nolea perofeta osmelu koskerlam aule mokakalam Ioane Bapataiso: epe le kebile Ade ra baselaia ge, E aule abim.
28Ta nói cùng các ngươi, trong những người bởi đàn bà sanh ra, không có ai lớn hơn Giăng Báp-tít đâu; nhưng trong nước Đức Chúa Trời, kẻ rất nhỏ còn lớn hơn Giăng vậy.
29Abele ged uiaba Adim naospered abele mer uiaba emetu asoli, pako telona giz, abelelam Ioane E uiabim bapataiso, abara bapataiso.
29Cả dân chúng cùng kẻ thâu thuế chịu Giăng làm phép báp-tem, đều xưng Đức Chúa Trời là công bình.
30Epe Faresaio giz, pako ereuer gelar giz, uiaba adem Ade ra sirdam, abelelam uiaba nolea lagelag abara bapataiso.
30Song người Pha-ri-si cùng các thầy dạy luật không chịu Giăng làm phép báp-tem, nên chê bỏ ý Đức Chúa Trời định về mình.
31Ege Opole detager, Abele nosik, nako lu mokakalam kaka uiabim natomeret? nako lu uiaba koreb?
31Vậy, ta sẽ sánh người đời nầy với gì, họ giống như ai?
32Mokakalam kebile giz uiaba emeri zegur uteb ge, uiaba dabgiri, kega, Ege keriba sirumer uabim, a uaba nolea sererege baberkeri; ege keriba au ezoli uabim, a uaba nolea ezoli keribim.
32Họ giống như con trẻ ngồi ngoài chợ, nói cùng nhau rằng: Ta đã thổi sáo, mà bay không nhảy múa; ta đã than vãn, mà bay không khóc.
33Abelelam Ioane Bapataiso tabarki, nolea areto eroli, a nolea uaina ereli; a uaba detager, kega, E nagri demoni abi dog.
33Vả, Giăng Báp-tít đã đến, không ăn bánh, không uống rượu; thì các ngươi nói rằng: Người mắc quỉ dữ.
34Ege Ade ra Uerem tabarki, E eroli, a ereli; a uaba detager, kega, Dasmer, abele le E au lagelag leuer eroli, a pako uaina ereli, telona giz la le pako uit le!
34Con người đến, ăn và uống, thì các ngươi nói rằng: Aáy đó là người ham ăn mê uống, bạn với người thâu thuế và kẻ có tội.
35Abele le pardale, E gaire abara uerem, E debe mer abim.
35Song sự khôn ngoan được xưng công bình nhờ những việc làm của nó.
36Ege nerute le, Faresaio giz, E abi detager, Meriba eroare okakis. Ege E bakeamulu Faresaio ra meta, epe E eidi, a eroli.
36Có một người Pha-ri-si mời Đức Chúa Jêsus ăn tại nhà mình. Vậy, khi đã vào nhà người Pha-ri-si thì Ngài ngồi bàn.
37Dasmer, nerute kosker abele uteb, abele kosker E uit le; ege emetu erdali E eidi eroli Faresaio ra meta, epe E tais nerute tarpor, debe laglag mitkar,
37Vả, có một người đàn bà xấu nết ở thành đó, nghe nói Đức Chúa Jêsus đang ngồi bàn tại nhà người Pha-ri-si, bèn đem đến một bình ngọc trắng đựng đầy dầu thơm.
38E ekue isorge Iesu ra teter, E ezoli, ege abara ebeb babused Iesu ra teter, E idigiri abara mus, E eskos abara teter, pako desao abara gem abele lukup, debe laglag.
38Người đứng đằng sau, nơi chân Đức Chúa Jêsus, khóc, sa nước mắt trên chân Ngài, rồi lấy tóc mình mà chùi; lại hôn chân Ngài, và xức dầu thơm cho.
39Ege Faresaio le umele Iesu E mer abim, epe E dikiapore muige abara nerkep, Ese abele le E perofeta, nako E umele abele kosker, pako abara tonar, ege E abi itut: abelelam abele kosker E uit le.
39Người Pha-ri-si đã mời Ngài, thấy vậy, tự nghĩ rằng: Nếu người nầy là đấng tiên tri, chắc biết người đàn bà rờ đến mình đó là ai, cùng biết ấy là người đàn bà xấu nết.
40Epe Iesu abi detager, kega, Simona, kara mer marim, ege E abi detager, Ereuer le, ma detager.
40Đức Chúa Jêsus bèn cất tiếng phán cùng người rằng: Hỡi Si-môn, ta có vài lời nói cùng ngươi. Người thưa rằng: Thưa thầy, xin cứ nói.
41Neisi le uiaba damosi nerute le ra mani: nerute le abi damosi denari faif handed, a nerute le fifte.
41Một chủ nợ có hai người mắc nợ: một người mắc năm trăm đơ-ni-ê, một người mắc năm chục.
42Ege uiaba nolea mani nakuar abkoreb abara mani, epe E uiabi omare, E idigiri uiabim nolea ko dikiapore bodomalam abara mani. Debele ma kari detager, Nete aule abara omare abim?
42Vì hai người đều không có chi mà trả, nên chủ nợ tha cả hai. Trong hai người đó, ai yêu chủ nợ hơn?
43Ege Simona mer etkalu, kega, Kaka dikiapore, abele le gaire abara mani E abi idigiri. Ege E abim detager, Mara mer barkak.
43Si-môn thưa rằng: Tôi tưởng là người mà chủ nợ đã tha nhiều nợ hơn. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ngươi đoán phải lắm.
44Epe Iesu egreemalu abele kosker, ege abi detager Simona, Nako, ma umele abele kosker? Kaka balu muige mara meta, ma nolea tais ni kara teter ge: epe abele kosker abara ebeb E babused kara teter ge, E idigiri abara mus.
44Đoạn, Ngài xây lại người đàn bà mà phán cùng Si-môn rằng: Ngươi thấy đàn bà nầy không? Ta vào nhà ngươi, ngươi không cho nước rửa chân; nhưng người đã lấy nước mắt thấm ướt chân ta, rồi lấy tóc mình mà chùi.
45Ma nolea karim eskos: epe E dali, nolea ner kak karim eskos, abele ge ditimedlu abele meta ge balu.
45Ngươi không hôn ta; nhưng người từ khi vào nhà ngươi, thì hôn chân ta hoài.
46Ma nolea desao kara kerem abele lukup de: epe E dali, E desao kara teter abele lukup, debe laglag.
46Ngươi không xức dầu đầu ta; nhưng người lấy dầu thơm xức chân ta.
47Abelelam, kaka detager marim, Ege gaire abara uit uridili emetu idigiri; abelelam E au omare: epe le kebile abara lu emetu idigiri, abara omare kebile.
47Vậy nên ta nói cùng ngươi, tội lỗi đàn bà nầy nhiều lắm, đã được tha hết, vì người đã yêu mến nhiều; song kẻ được tha ít thì yêu mến ít.
48Ege E abi detager, abele kosker, Mara uit emetu idigiri.
48Ngài bèn phán cùng người đàn bà rằng: Tội lỗi ngươi đã được tha rồi.
49Uader uiaba eidi eroare, a uiaba dikiapore muige uiaba nerkep, Nete le dali, E idigiri uit?
49Các người ngồi bàn với Ngài nghĩ thầm rằng: Người nầy là ai, mà cũng tha tội?
50Ege E abi detager, abele kosker, Ma eded abelelam ma oituli; Ma uerkab bakeamu.
50Nhưng Ngài phán cùng người đàn bà rằng: Đức tin của ngươi đã cứu ngươi; hãy đi cho bình an.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.