Luka 16
Meriam Mir GospelsTranslation
Meriam Mir Gospels
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Ege E tabara kaimeg giz daratagerare, Nerute lu giz, E nagri memeg le, E sirdam; Ege E abi etomelu, E dedkoli abara lu.
1Đức Chúa Jêsus lại phán cùng môn đồ rằng: người giàu kia có một quản gia bị cáo với chủ rằng người tiêu phá của chủ.
2Ege E abi dabger, kega, Nalu lu kaka mari asoli? ma natomer abele lu ma sirdameri; abelelam kaka umer kak ma memeg le sirdam.
2Vậy, chủ đòi người đó mà nói rằng: Ta nghe nói về ngươi nỗi chi? Hãy khai ra việc quản trị của ngươi, vì từ nay ngươi không được cai quản gia tài ta nữa.
3Abele memeg le lut E dikiapor muige abara nerkep ge, Nalu lu ka akerer, abelelam kara opole E kari adem abele dorgelam memeg le sirdamelam? Kaka umer kak daiue; kaka sirip damosi.
3Người quản gia tự nghĩ rằng: Chủ cách chức ta, ta sẽ làm gì? Làm ruộng thì ta không có sức làm nổi, còn đi ăn mày thì hổ ngươi.
4Kaka umele abele lu kaka ikeli, iaueakai ese E kari adem abele dorgelam, a uiaba ko kari nagared uiaba utebem.
4Ta biết điều ta sẽ làm, để khi bị cách chức, có kẻ tiếp rước ta về nhà.
5Ege E mer tigri nerute leem, a nerute leem, uiaba uridili nagri lu uiaba opole; E nerute le detager, Naket lu mari dog kara opole la?
5Người ấy bèn gọi riêng từng người mắc nợ chủ mình đến, và hỏi người thứ nhất rằng: Ngươi mắc nợ chủ ta bao nhiêu?
6E abi detager, kega, Paita uakaisu netate handed. Ege E abi detager, kega, Ma erpei mabara jauali, ma dudum emeri, ma detar fifite.
6Trả lời rằng: Một trăm thùng dầu. Quản gia nói rằng: Hãy cầm lấy tờ khế, ngồi xuống đó, viết mau: Năm chục.
7Ege E nerute le detager, Naket lu mari dog? E detaut, kega, Saito kori netate handed. Ege E abi detager, Ma erpei mara jauali, ma detar eiti.
7Rồi hỏi người kia rằng: Còn ngươi, mắc bao nhiêu? Trả lời rằng: Một trăm hộc lúa mì. Quản gia rằng: Hãy cầm lấy tờ khế và viết: Tám chục.
8Ege abara opole desperer abele memeg le, abara tonar nole barkak, abelelam E au pardar: abelelam geseb le E aule dikiapor uiaba nosik tumem datki le.
8Chủ bèn khen quản gia bất nghĩa ấy về việc người đã làm khôn khéo như vậy. Vì con đời nầy trong việc thông công với người đồng đời mình thì khôn khéo hơn con sáng láng.
9Kaka uabi detagereda, Abele mamona nole barkak tonar uabim, iaueakai uaba tebud keubu uabi tegaret uiaba meta niai karem.
9Còn ta nói cho các ngươi: Hãy dùng của bất nghĩa mà kết bạn, để khi của ấy hết đi, họ tiếp các ngươi vào nhà đời đời.
10Ese le ageakar kebi lu, E ko ageakar au lu: Ese le nole barkak tonar kebi lu, E ko nolea barkak tonar au lu.
10Ai trung tín trong việc rất nhỏ, cũng trung tín trong việc lớn; ai bất nghĩa trong việc rất nhỏ, cũng bất nghĩa trong việc lớn.
11Ese uaba nole ageakar, abele mamona nole barkak tonar, nete le uabi ikuar abele lu giz kar asesered?
11Vậy nếu các ngươi không trung tín về của bất nghĩa, có ai đem của thật giao cho các ngươi?
12Ese uaba nole ageakar subele la lu, nete le uabi ikuar uaba lu?
12Nếu các ngươi không trung tín về của người khác, ai sẽ cho các ngươi được của riêng mình?
13Memeg le umer kak dorge ikeli uiabim neisi opole: abelelam E derar nerute le, E omare nerute le; epe nerute, E maike nerute le, a dituaki nerute le. Uaba umer kak Ade ra memeg le, pako mamona.
13Không có đầy tớ nào làm tôi hai chủ được; vì sẽ ghét chủ nầy mà yêu chủ kia, hay là hiệp với chủ nầy mà khinh dể chủ kia. Các ngươi không có thể đã làm tôi Đức Chúa Trời, lại làm tôi Ma-môn nữa.
14Ege Faresaio giz aserare gaire lu uridili, uiaba lu lag; a uiaba abi negneg.
14Người Pha-ri-si là kẻ ham tiền tài, nghe mọi điều đó, bèn chê cười Ngài.
15E uiabi daratagerare, kega, Uaba tonar no bes barkak le la opem; epe Ade umele dikiapore uaba nerkep: abelelam ese debe lu le la opem, E adud Ade ra opem.
15Ngài phán cùng họ rằng: Các ngươi làm bộ công bình qua mặt người ta, song Đức Chúa Trời biết lòng các ngươi; vì sự người ta tôn trọng là gớm ghiếc trước mặt Đức Chúa Trời.
16Abele gelar giz pako perofeta bakedida Ioane: ditimedelu natomertare Ade ra baselaia ge, a gaire le batumu.
16Luật pháp và các lời tiên tri có đến đời Giăng mà thôi; từ đó tin lành của nước Đức Chúa Trời được truyền ra, và ai nấy dùng sức mạnh mà vào đó.
17Kotor a gesep sobkak uaeseamu, Ade ra gelar giz nolea nerute mog uar uaeseamu.
17Trời đất qua đi còn dễ hơn một nét chữ trong luật pháp phải bỏ đi.
18Ese nerute le dituak abara kosker, a isipi nerute, E eruam: ese nerute le isipi abele kosker, abara kimiar dituak, E eruam.
18Ai bỏ vợ mình mà cưới vợ khác, thì phạm tội tà dâm, ai cưới đàn bà bị chồng để, thì cũng phạm tội tà dâm.
19Nerute lu giz ra apu, E ame uali golegole gegur, pako mus uali, E mamor emeri gaire gerger uridili, a debe leuer ero:
19Có một người giàu mặc áo tía và áo bằng vải gai mịn, hằng ngày ăn ở rất là sung sướng.
20Nerute le nole lu kak, nei Lazaro, E eidi abi gab te ge, ege E badbad:
20Lại có một người nghèo, tên là La-xa-rơ, nằm ngoài cửa người giàu đó, mình đầy những ghẻ.
21Ege E lagelag ero lu giz ra leuer poipi, abi laulaulam; a omai giz esomed abara bad.
21Người ước ao được ăn những đồ ở trên bàn người giàu rớt xuống; cũng có chó đến liếm ghẻ người.
22Ege abele kerker ge, lu kak le eumilu, ege angela giz abi ais Aberahama ra marmot ge: ege luglug le eumilu, a etkobei.
22Vả, người nghèo chết, thiên sứ đem để vào lòng Aùp-ra-ham; người giàu cũng chết, người ta đem chôn.
23A Hedisge, E au asiasi nagri, E egreemalu, E muriz ge erdali Aberahama pako Lazaro E emeri abara marmot ge.
23Người giàu ở nơi âm phủ đang bị đau đớn, ngước mắt lên, xa thấy Aùp-ra- ham, và La-xa-rơ trong lòng người;
24E ereretikri, kega, Kara aba, Aberahama, ma kari omare, ma namarida Lazaro akmei tabara tag pem ni ge, ko itimoar kara uerut; abelelam kaka au asiasi abele ur au be.
24bèn kêu lên rằng: Hỡi Aùp-ra-ham tổ tôi, xin thương lấy tôi, sai La-xa-rơ nhúng đầu ngón tay vào nước đặng làm cho mát lưỡi tôi; vì tôi bị khổ trong lửa nầy quá đỗi.
25Ege Aberahama de abi detager, kega, Kara uerem, ma dikiapor, gaire debe lu ma nagri mara eded, a Lazaro nagri adud lu abara eded: a peirdi E nagri sererege, a ma au asiasi.
25Nhưng Aùp-ra-ham trả lời rằng: Con ơi, hãy nhớ lại lúc ngươi còn sống đã được hưởng những sự lành của mình rồi, còn La-xa-rơ phải những sự dữ; bây giờ, nó ở đây được yên ủi, còn ngươi phải bị khổ hình.
26A nerute lu, meriba nagri auak eipu, abelelam keriba umer kak bakeamu uaba uteb, a uaba umer kak tabakeamu keriba uteb.
26Vả lại, có một vực sâu ở giữa chúng ta với ngươi, đến nỗi ai muốn từ đây qua đó không được, mà ai muốn từ đó qua đây cũng không được.
27Ege E abi detager, kega, Kara aba, kaka mari damosi ma abi temarida kara aba ra boai;
27Người giàu nói rằng: Tổ tôi ơi! vậy thì xin sai La-xa-rơ đến nhà cha tôi,
28Abelelam faif kara le; ueakai uiaba mamoro asoli, nolea uiaba tabakeamu abele uteb, au asiasi.
28vì tôi có năm anh em, đặng người làm chứng cho họ về những điều nầy, kẻo họ cũng xuống nơi đau đớn nầy chăng.
29Ege Aberahama de abi detager, kega, Nagri Mose pako perofeta uiabi dog, iaueakai uiaba asoli.
29Aùp-ra-ham trả lời rằng: Chúng nó đã có Môi-se và các đấng tiên tri; chúng nó phải nghe lời các đấng ấy!
30E ge abi detager, kega, Kara aba, Aberahama, nolea: debele nerute le iako takomeda eudelam, ueakai uiaba nagri obazegeda.
30Người giàu nói rằng: Thưa Aùp-ra-ham tổ tôi, không phải vậy đâu; nhưng nếu có kẻ chết sống lại đến cùng họ, thì họ sẽ ăn năn.
31E ge abi detager, kega, Ese uiaba nole asoli Mose pako perofeta, ese nerute le ko eded akaida, a uiaba nole asor kak.
31Song Aùp-ra-ham rằng: Nếu không nghe Môi-se và các đấng tiên tri, thì dầu có ai từ kẻ chết sống lại, chúng nó cũng chẳng tin vậy.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.