Лука 5
Cornilescu Bible (1924), Cyrillic scriptTranslation
Cornilescu Bible (1924), Cyrillic script
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Пе кынд Се афла лынгэ лакул Генезарет ши Ыл ымбулзя нородул ка сэ аудэ Кувынтул луй Думнезеу,
1Khi Đức Chúa Jêsus, trên bờ hồ Ghê-nê-xa-rết, đoàn dân đông chen lấn nhau xung quanh Ngài đặng nghe đạo Đức Chúa Trời.
2Исус а вэзут доуэ корэбий ла марӂиня лакулуй; пескарий ешисерэ дин еле сэ-шь спеле мрежеле.
2Ngài thấy hai chiếc thuyền đậu gần bờ, người đánh cá đã xuống khỏi thuyền giặt lưới,
3С-а суит ынтр-уна дин ачесте корэбий, каре ера а луй Симон, ши л-а ругат с-о депэртезе пуцин де ла цэрм. Апой, а шезут жос ши ынвэца пе нороаде дин корабие.
3thì Ngài lên một chiếc thuyền trong hai chiếc, là chiếc của Si-môn, biểu người đem ra khỏi bờ một chút; rồi Ngài ngồi mà dạy dỗ dân chúng.
4Кынд а ынчетат сэ ворбяскэ, а зис луй Симон: „Депэртяз-ола адынк ши арункаци-вэ мрежеле пентру пескуире.”
4Khi Ngài phán xong thì biểu Si-môn rằng: Hãy chèo ra ngoài sâu, thả lưới mà đánh cá.
5Дрепт рэспунс, Симон Й-а зис: „Ынвэцэторуле, тоатэ ноаптя не-ам трудит ши н-ам принс нимик, дар, ла кувынтул Тэу, вой арунка мрежеле!”
5Si-môn thưa rằng: Thưa thầy, chúng tôi đã làm suốt đêm không bắt được chi hết; dầu vậy, tôi cũng theo lời thầy mà thả lưới.
6Дупэ че ле-ау арункат, ау принс о аша де маре мулциме де пешть кэ ынчепяу сэ ли се рупэ мрежеле.
6Họ thả lưới xuống, được nhiều cá lắm, đến nỗi lưới phải đứt ra.
7Ау фэкут семн товарэшилор лор, каре ерау ын чялалтэ корабие, сэ винэ сэ ле ажуте. Ачея ау венит ши ау умплут амындоуэ корэбииле, аша кэ ау ынчепут сэ се афунде корэбииле.
7Họ bèn ra vọi gọi đồng bạn mình ở thuyền khác đến giúp; bạn kia đến chở cá đầy hai chiếc thuyền, đến nỗi gần chìm.
8Кынд а вэзут Симон Петру лукрул ачеста, с-а арункат ла ӂенункий луй Исус ши Й-а зис: „Доамне, плякэ де ла мине, кэч сунт ун ом пэкэтос.”
8Si-môn Phi-e-rơ thấy vậy, liền sấp mình xuống ngang đầu gối Đức Chúa Jêsus, mà thưa rằng: Lạy Chúa, xin ra khỏi tôi, vì tôi là người có tội.
9Фииндкэ ыл апукасе спайма, пе ел ши пе тоць чей че ерау ку ел, дин причина пескуирий пе каре о фэкусерэ.
9Số là, vì đánh cá dường ấy, nên Si-môn cùng mọi người ở với mình đều thất kinh; Gia-cơ và Giăng con Xê-bê-đê, là những kẻ đồng bạn với Si-môn cũng đồng một thể ấy.
10Тот аша ши пе Иаков ши пе Иоан, фиий луй Зебедей, товарэший луй Симон. Атунч, Исус а зис луй Симон: „Ну те теме; де акумынколо вей фи пескар де оамень.”
10Đức Chúa Jêsus bèn phán cùng Si-môn rằng: Đừng sợ chi, từ nay trở đi, ngươi sẽ nên tay đánh lưới người.
11Ей ау скос корэбииле ла мал, ау лэсат тотул ши ау мерс дупэ Ел.
11Đoạn, họ đem thuyền vào bờ, bỏ hết thảy mà theo Ngài.
12Исус ера ынтр-уна дин четэць. Ши ятэ кэ ун ом плин де лепрэ, кум Л-а вэзут, с-а арункат ку фаца ла пэмынт, Л-а ругат ши Й-а зис: „Доамне, дакэ врей, поць сэ мэ курэцешть.”
12Đức Chúa Jêsus đang ở trong thành kia, có một người mắc bịnh phung đầy mình, thấy Ngài thì sấp mặt xuống đất, mà nài xin rằng: Lạy Chúa, nếu Chúa khứng, chắc có thể làm cho tôi được sạch!
13Исус а ынтинс мына, С-а атинс де ел ши й-а зис: „Да, воеск, фий курэцит!” Ындатэ л-а лэсат лепра.
13Đức Chúa Jêsus giơ tay rờ đến người ấy, mà phán rằng: Ta khứng, hãy sạch đi. Tức thì, bịnh phung liền hết.
14Апой, й-а порунчит сэ ну спунэ нимэнуй. „Чи ду-те” , й-а зис Ел, „де те аратэ преотулуй ши аду пентру курэциря та чеа рындуит Мойсе, ка мэртурие пентру ей.”
14Đức Chúa Jêsus cấm người đó học chuyện lại với ai; nhưng dặn rằng: Hãy đi tỏ mình cùng thầy tế lễ; và dâng của lễ về sự ngươi được sạch, theo như Môi-se dạy, để điều đó làm chứng cho họ.
15Се рэспындя тот май мулт вестя деспре Ел, ши оамений се стрынӂяу ку грэмада ка сэ-Л аскулте ши сэ фие виндекаць де болиле лор.
15Danh tiếng Ngài càng ngày càng vang ra, và một đoàn dân đông nhóm họp để nghe Ngài và để được chữa lành bịnh.
16Яр Ел Се дучя ын локурь пустий ши Се руга.
16Song Ngài lánh đi nơi đồng vắng mà cầu nguyện.
17Ынтр-уна дин зиле, Исус ынвэца пе нороаде. Ниште фарисей ши ынвэцэторь ай Леӂий, каре венисерэ дин тоате сателе Галилеий ши Иудеий ши дин Иерусалим, стэтяу аколо; яр путеря Домнулуй ера ку Ел, ка сэ виндече.
17Một ngày kia, Đức Chúa Jêsus đang dạy dỗ, có người Pha-ri-si và mấy thầy dạy luật từ các làng xứ Ga-li-lê, xứ Giu-đê, và thành Giê-ru-sa-lem đều đến, ngồi tại đó, quyền phép Chúa ở trong Ngài để chữa lành các bịnh.
18Ши ятэ кэ ниште оамень пуртау ынтр-ун пат пе ун слэбэног ши кэутау сэ-л дукэ ынэунтру, ка сэ-л пунэ ынаинтя Луй.
18Bấy giờ, có mấy người khiêng một kẻ đau bại trên giường, kiếm cách đem vào để trước mặt Đức Chúa Jêsus.
19Фииндкэ н-авяу пе унде сэ-л дукэ ынэунтру, дин причина нородулуй, с-ау суит пе акоперишул касей ши л-ау коборыт ку патул принтре кэрэмизь, ын мижлокул адунэрий, ынаинтя луй Исус.
19Nhân vì người ta đông lắm, không biết bởi đâu mà qua, họ bèn trèo lên mái nhà, dỡ ngói ra, dòng người và giường nhỏ xuống trước mặt Ngài, giữa đám đô hội.
20Кынд ле-а вэзут крединца, Исус а зис: „Омуле, пэкателе ыць сунт ертате!”
20Đức Chúa Jêsus thấy đức tin của họ, bèn phán rằng: Hỡi người, tội lỗi ngươi đã được tha.
21Кэртурарий ши фарисеий ау ынчепут сэ кыртяскэ ши сэ зикэ ын ей ыншишь: „Чине есте ачеста де ростеште хуле? Чине поате сэ ерте пэкателе декыт сингур Думнезеу?”
21Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si bèn nghị luận rằng: Người nầy là ai mà nói phạm thượng vậy? Ngoài Đức Chúa Trời, há có ai tha tội được sao?
22Исус, каре ле-а куноскут гындуриле, а луат кувынтул ши ле-а зис: „Пентру че кыртиць ын инимиле воастре?
22Nhưng Đức Chúa Jêsus biết ý tưởng họ, cất tiếng phán rằng: Các ngươi nghị luận gì trong lòng?
23Че есте май лесне: а зиче: ‘Пэкателе ыць сунт ертате’ сау а зиче: ‘Скоалэ-те ши умблэ’?
23Nay nói rằng: Tội ngươi đã được tha, hoặc rằng: Ngươi hãy đứng dậy mà đi, thì bên nào dễ hơn?
24Дар, ка сэ штиць кэ Фиул омулуй аре путере пе пэмынт сэ ерте пэкателе: ‘Цие ыць порунческ’” , а зис Ел слэбэногулуй, „‘скоалэ-те, ридикэ-ць патул ши ду-те акасэ.’”
24Vả, hầu cho các ngươi biết Con người ở thế gian có quyền tha tội: Ngài phán cùng kẻ bại rằng: Ta biểu ngươi đứng dậy, vác giường trở về nhà.
25Ши нумайдекыт, слэбэногул с-а скулат ын фаца лор, а ридикат патул пе каре зэчя ши с-а дус акасэ, слэвинд пе Думнезеу.
25Tức thì kẻ bại đứng dậy trước mặt chúng, vác giường mình đã nằm, và đi về nhà, ngợi khen Đức Chúa Trời.
26Тоць ау рэмас уймиць ши слэвяу пе Думнезеу; плинь де фрикэ зичяу: „Азь ам вэзут лукрурь немайпомените.”
26Ai nấy đều sững sờ, ngợi khen Đức Chúa Trời; và sợ sệt lắm mà nói rằng: Hôm nay chúng ta đã thấy những việc dị thường.
27Дупэ ачея, Исус а ешит афарэ ши а вэзут пе ун вамеш, нумит Леви, шезынд ла вамэ. Ши й-а зис: „Вино дупэ Мине!”
27Kế đó, Đức Chúa Jêsus ra ngoài, thấy một người thâu thuế, tên là Lê-vi, đang ngồi tại sở thâu thuế. Ngài phán cùng người rằng: Hãy theo ta!
28Вамешул а лэсат тотул, с-а скулат ши а мерс дупэ Ел.
28Lê-vi bỏ hết mọi sự, đứng dậy đi theo Ngài.
29Леви Й-а фэкут ун оспэц маре ла ел ын касэ; ши о мулциме де вамешь ши де алць оаспець шедяу ла масэ ку ей.
29Lê-vi dọn tiệc trọng thể đãi Ngài tại nhà mình, có nhiều người thâu thuế và kẻ khác cùng ngồi ăn đồng bàn.
30Фарисеий ши кэртурарий кыртяу ши зичяу ученичилор Луй: „Пентру че мынкаць ши бець ымпреунэ ку вамеший ши ку пэкэтоший?”
30Các người Pha-ri-si và các thầy thông giáo họ lằm bằm, nói cùng môn đồ Ngài rằng: Sao các ngươi ăn uống với người thâu thuế và kẻ phạm tội?
31Исус а луат кувынтул ши ле-а зис: „Ну чей сэнэтошь ау требуинцэ де доктор, чи чей болнавь.
31Đức Chúa Jêsus phán cùng họ rằng: Không phải người khỏe mạnh cần thầy thuốc, song là người đau ốm.
32Н-амвенит сэ кем ла покэинцэ пе чей неприхэниць, чи пе чей пэкэтошь.”
32Ta không phải đến gọi kẻ công bình hối cải, song gọi kẻ có tội.
33Ей Й-ау зис: „Ученичий луй Иоан, ка ши ай фарисеилор, постеск дес ши фак ругэчунь, пе кынд ай Тэй мэнынкэ ши бяу.”
33Họ thưa Ngài rằng: môn đồ của Giăng thường kiêng ăn cầu nguyện, cũng như môn đồ của người Pha-ri-si, chẳng như môn đồ của thầy ăn và uống.
34Ел ле-а рэспунс: „Оаре путець фаче пе нунташь сэ постяскэ ын тимпул кынд миреле есте ку ей?
34Ngài đáp rằng: Trong khi chàng rể còn ở cùng bạn mừng cưới mình, các ngươi dễ bắt họ phải kiêng ăn được sao?
35Вор вени зиле кынд ва фи луат миреле де ла ей; атунч вор пости ын ачеле зиле.”
35Song đến ngày nào chàng rể phải đem đi khỏi họ, thì trong những ngày ấy họ mới kiêng ăn vậy.
36Ле-а спус ши о пилдэ: „Нимень ну рупе динтр-о хайнэ ноуэ ун петик ка сэ-л пунэ ла о хайнэ веке; алтминтерь, рупе ши хайна чя ноуэ ши нич петикул луат де ла еа ну се потривеште ла чя веке.
36Ngài lại lấy thí dụ mà phán cùng họ rằng: Không ai xé một miếng áo mới mà vá áo cũ. Nếu vậy, áo mới phải rách, và miếng giẻ mới cũng không xứng với áo cũ.
37Ши нимень ну пуне вин ноу ын бурдуфурь векь; алтминтерь, винул чел ноу спарӂе бурдуфуриле, се варсэ, ши бурдуфуриле се прэпэдеск;
37Cũng không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ, nếu vậy, rượu mới làm nứt bầu ra; rượu chảy mất và bầu cũng phải hư đi.
38чи винул ноу требуе пус ын бурдуфурь ной ши амындоуэ се пэстрязэ.
38Song rượu mới phải đổ vào bầu mới.
39Ши нимень, дупэ че а бэут вин векь, ну воеште вин ноу, кэч зиче: ‘Есте май бун чел векь.’”
39Lại cũng không ai uống rượu cũ lại đòi rượu mới; vì người nói rằng: Rượu cũ ngon hơn.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.