Korineto I. 12
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1E NA hoahanau e, aole o'u makemake e naaupo oukou ma na mea o ka Uhane.
1Hỡi anh em, tôi không muốn anh em chẳng biết về các sự ban cho thiêng liêng.
2Ua ike no hoi oukou, he lahuikanaka e oukou, i hooliloia mamuli o na kii leo ole, ma kahi a oukou i kaiia'ku ai.
2Anh em biết khi mình còn là người ngoại đạo, bị khuyên dỗ hướng về các thần tượng câm, tùy ý người ta dẫn dụ mình.
3No ia mea, ke hoike aku nei au ia oukou, aole he kanaka hoohiki ino ia Iesu, ke olelo oia ma ka Uhane o ke Akua. Aole he kanaka e hiki ia ia ke olelo aku ia Iesu, he Haku, ke olelo ole ia ma ka Uhane Hemolele.
3Bởi đó, tôi tỏ cùng anh em, chẳng ai cảm Thánh Linh của Đức Chúa Trời, mà nói rằng: Đức Chúa Jêsus đáng nguyền rủa! Nếu không cảm Đức Thánh Linh, cũng chẳng ai xưng Đức Chúa Jêsus là Chúa!
4Ua nui no ke ano o na haawina, aka, hookahi no Uhane.
4Vả, có các sự ban cho khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Thánh Linh.
5Ua nui no ke ano o na oihana, aka, hookahi no Haku.
5Có các chức vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa.
6Ua nui no ko ano o na hana mana, aka, hookahi no Akua nana i hana na mea a pau.
6Có các việc làm khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Chúa Trời, là Đấng làm mọi việc trong mọi người.
7Ua haawiia mai i kela kanaka i keia kanaka na oihana a ka Uhane i mea e pono ai.
7Đức Thánh Linh tỏ ra trong mỗi một người, cho ai nấy đều được sự ích chung.
8No ka mea, ua baawiia mai i kekahi e ka Uhane, ka olelo akamai; a i kekahi ka olelo hoonaauao, na ka Uhane hookahi no;
8Vả, người nầy nhờ Đức Thánh Linh, được lời nói khôn ngoan; kẻ kia nhờ một Đức Thánh Linh ấy, cũng được lời nói có tri thức.
9A i kekahi, ka manaoio, na ka Uhane hookahi no; a i kekahi, ka oihana hoola, na ka Uhane hookahi no;
9Bởi một Đức Thánh Linh, cho người nầy được đức tin; cũng bởi một Đức Thánh Linh ấy, cho kẻ kia được ơn chữa tật bịnh;
10A i kekahi, kahana i na hana mana; a i kekahi, ka wanana; a i kekahi, ka ike maopopo i na uhane; a i kekahi, ka olelo i na olelo e; a i kekahi ka hoomaopopo i na olelo e.
10người thì được làm phép lạ; kẻ thì được nói tiên tri; người thì được phân biệt các thần; kẻ thì được nói nhiều thứ tiếng khác nhau, người thì được thông giải các thứ tiếng ấy.
11Na kela Uhane hookahi i hana ia mau mea a pau, e haawi aku ana i kela kanaka i keia kanaka, e like me kona makemake.
11Mọi điều đó là công việc của đồng một Đức Thánh Linh mà thôi, theo ý Ngài muốn, phân phát sự ban cho riêng cho mỗi người.
12E like me ke kino, hookahi no ia, a he nui kona mau lala, a o na lala a pau he nui, no ke kino hookahi, hookahi no kino lakou: pela no o Kristo.
12Vả, như thân là một, mà có nhiều chi thể, và như các chi thể của thân dầu có nhiều, cũng chỉ hiệp thành một thân mà thôi, Đấng Christ khác nào như vậy.
13Na ka Uhane hookahi kakou a pau, i bapetizoia mai iloko o ke kino hookahi, o na Iudaio, a me na Helene, o ka poe i hoopaala, a me ka poe paa ole; ua hooinuia mai kakou a pau iloko o ka Uhane hookahi.
13Vì chưng chúng ta hoặc người Giu-đa, hoặc người Gờ-réc, hoặc tôi mọi, hoặc tự chủ, đều đã chịu phép báp-têm chung một Thánh Linh để hiệp làm một thân; và chúng ta đều đã chịu uống chung một Thánh Linh nữa.
14O ke kino, aole ia he lala hookahi, he nui no.
14Thân cũng chẳng phải có một chi thể, bèn là nhiều chi thể.
15Ina paha e olelo ka wawae, Aole au he lima, nolaila, aole no ke kino wau; no ia mea, aole anei ia no ke kino?
15Nếu chơn rằng: vì ta chẳng phải là tay, nên ta không thuộc về thân, thì chẳng phải bởi đó chơn không có phần trong thân.
16A ina paha e olelo ka pepeiao, Aole au he maka, nolaila, aole no ke kino wau; no ia mea, aole anei ia no ke kino?
16Và nếu tai rằng: Vì ta chẳng phải là mắt, nên ta không thuộc về thân, thì tai chẳng phải bởi đó không có phần trong thân.
17Ina he maka wale no ke kino a pau, alaila, mahea la ka lohe? A ina he lohe wale no, alaila, mahea la ka honi ana?
17Ví bằng cả thân đều là mắt, thì sự nghe ở đâu? Nếu cả thân đều là tai, thì sự ngửi ở đâu?
18Ua hoonoho mai ko Akua i na lala a pau iloko o ke kino e like me kona makemake iho.
18Nhưng bây giờ, Đức Chúa Trời đã sắp đặt các chi thể của thân chúng ta, ban cho mỗi một chi thể cái địa vị theo ý Ngài lấy làm tốt mà chỉ định.
19A ina paha hookahi wale no lala o lakou a pau, alaila, mahea la ke kino?
19Nếu chỉ có một chi thể mà thôi, thì cái thân ở đâu?
20Ano la, he nui no na lala, aka, hookahi no kino.
20Vậy, có nhiều chi thể, song chỉ có một thân.
21Aole boi e hiki i ka maka, ko olelo i ka lima, Aole o'u hemahema ke lilo oe: aole hoi pela ke poo i ka wawae, Aole o'u hemahema ke lilo oe.
21Mắt không được nói với bàn tay rằng: Ta chẳng cần đến mầy; đầu cũng chẳng được nói với chơn rằng: Ta chẳng cần đến bay.
22Aka, he oiaio no, o na lala o ke kino i manaoia, he hemahema, he mau mea ia e pono ai.
22Trái lại, các chi thể của thân xem ra rất yếu đuối lại là cần dùng.
23A o na mea hoi o ke kino i mahalo ole ia e kakou, ke kahiko nui nei kakou ia mau mea, a ua nui aku ka maikai o ko kakou lala ino.
23Chi thể nào trong thân chúng ta nghĩ là hèn hạ hơn, thì chúng ta tôn trọng hơn; chi thể nào chẳng đẹp, thì chúng ta lại trau giồi hơn,
24No ka mea, aole i hemahema ko kakou lala maikai; aka, ua hui pu mai ke Akua i na mea o ke kino, a ua haawi mai hoi i ka mahalo nui ia i na lala i hemahema:
24còn như cái nào đã đẹp rồi, thì không cần trau giồi. Nhưng Đức Chúa Trời đã sắp đặt thân người, để chi thể nào thiếu thốn thì được quí trọng hơn,
25I ole ai e ku e na mea o ke kino, i malama like hoi na lala kekahi i kekahi.
25hầu cho trong thân không có sự phân rẽ, mà các chi thể phải đồng lo tưởng đến nhau.
26A ina poino kekahi lala, ua poino pu no na lala a pau; a ina i hoomaikaiia kekahi lala, ua olioli pu na lala a pau.
26Lại, trong các chi thể, khi có một cái nào chịu đau đớn, thì các cái khác đều cùng chịu; và khi một cái nào được tôn trọng, thì các cái khác đều cùng vui mừng.
27O oukou no ke kino o Kristo, a pakahi na lala.
27Vả, anh em là thân của Đấng Christ, và là chi thể của thân, ai riêng phần nấy.
28A ua hoonoho mai ke Akua i na mea maloko o ka ekalesia, o ka mua, o na lunaolelo; o ka lua, o na kaula; o ke kolu, o na kumu; a mahope, na mea hana mana; alaila, ka oihana hoola, a me na mea kokua, a me na luna, a me ka olelo i na olelo e.
28Đức Chúa Trời đã lập trong Hội thánh, thứ nhứt là sứ đồ, thứ nhì là đấng tiên tri, thứ ba là thầy giáo, kế đến kẻ làm phép lạ, rồi kẻ được ơn chữa bịnh, cứu giúp, cai quản, nói các thứ tiếng.
29He poe lunaolelo anei na mea a pau? He poe kaula anei ua mea a pau? He poe kumu anei na mea a pau? He poe hana mana anei na mea a pau?
29Có phải cả thảy là sứ đồ sao? Cả thảy là tiên tri sao? Cả thảy là thầy giáo sao? Cả thảy đều làm phép lạ sao?
30Ua loaa anei i na mea a pau ka oihana hoola? He poe olelo i na olelo e na mea a pau? He poe hoike ano anei ua mea a pau?
30Cả thảy đều được ơn chữa bịnh sao? Cả thảy đều nói tiếng lạ sao? Cả thảy đều thông giải tiếng lạ sao?
31E imi oukou i na oihana i oi; aka, na'u no e kuhikuhi aku ia oukou i ka aoao maikai loa.
31Hãy ước ao cho được sự ban cho lớn hơn hết. Bây giờ, tôi sẽ chỉ dẫn cho anh em con đường tốt lành hơn.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.