Korineto I. 14
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1E HAHAI oukou mamuli o ke aloha, a e iini oukou i na oihana o ka Uhane, e iini nui nae ma ka wanana ana aku.
1Hãy nôn nả tìm kiếm tình yêu thương. Cũng hãy ước ao các sự ban cho thiêng liêng, nhứt là sự ban cho nói tiên tri.
2O ka mea olelo i ka olelo e, aole ia i olelo i kanaka, aka, i ke Akua no; no ka mea, aohe mea nana e lohe pono; aka, ma ka uhane, ua olelo ia i na mea pohihihi.
2Vì người nào nói tiếng lạ, thì không phải nói với người ta, bèn là với Đức Chúa Trời, bởi chẳng có ai hiểu (ấy là trong tâm thần mà người kia nói lời mầu nhiệm);
3O ka mea wanana aku, olelo no ia i kanaka, ma ka mea e naauao ai, a me ka mea e ikaika ai, a me ka mea e oluolu ai.
3còn như kẻ nói tiên tri, thì nói với người ta để gây dựng, khuyên bảo và yên ủi.
4O ka mea olelo i ka olelo e, ua hoonaauao oia ia ia iho; aka, o ka mea wanana aku, ua hoonaauao ia i ka ekalesia.
4Kẻ nói tiếng lạ, tự gây dựng lấy mình; song kẻ nói tiên tri, gây dựng cho Hội thánh.
5Ua makemake au e olelo oukou a pau i ka olelo e, e aho no nae ke wanana aku oukou a pau; no ka mea, ua oi ka mea wanana mamua o ka mea olelo i ka olelo e, ke hoakaka ole ia, i loaa ka naauao i ka ekalesia.
5Tôi ước ao anh em đều nói tiếng lạ cả, song tôi còn ước ao hơn nữa là anh em nói tiên tri. Người nói tiên tri là trọng hơn kẻ nói tiếng lạ mà không giải nghĩa để cho Hội thánh được gây dựng.
6E na hoahanau e, ina e hele aku au io oukou la, me ka olelo i ka olelo e, pehea la e pono ai oukou in'u, ke olelo ole aku au ma ka hoike ana, a ma ka hoonaauao ana, a ma ka wanana ana, a ma ke ao ana aku?
6Hỡi anh em, ví bằng tôi đến cùng anh em, nói các thứ tiếng lạ, mà lời nói tôi chẳng tỏ sự kín nhiệm, chẳng có sự thông biết, chẳng có lời tiên tri, chẳng có sự khuyên dạy, thì ích gì đến anh em?
7A o na mea kani, oia ole, o ka ohe, o ka lira paha, ina aole i hoomaopopoia ke kani ana, pehea la e ikea ai ke ano o ka hookiokio ana, a me ka hookanikani ana?
7Vậy, dẫu vật không linh tánh phát ra tiếng, như ống tiêu, đờn cầm: nếu không có âm điệu phân biệt nhau, thể nào nhận biết được ống tiêu hay là đờn cầm thổi và khảy cái chi?
8Ina i kani maopopo ole ka pu, owai la ka mea hoomakaukau ia ia iho no ke kaua?
8Lại nếu kèn trổi tiếng lộn xộn, thì ai sửa soạn mà ra trận?
9Pela no hoi oukou, ina aole oukou e olelo ma ka waha i na mea maopopo ke lohe ia, pehea la e ikea ai ka mea i oleloia? no ka mea, e olelo no oukou i ka makani.
9Anh em cũng vậy, nếu dùng lưỡi nói chẳng rõ ràng cho người ta nghe, thì làm sao họ được biết điều anh em nói? Vì anh em nói bông lông.
10Manomano paha na olelo ma ke ao nei, aole i koe kekahi me ke ano ole.
10Trong thế gian có lắm thứ tiếng, mỗi thứ đều có nghĩa.
11Aka, ina aole au i ike i ke ano o ka olelo, e lilo no wau i mea naaupo i ka mea nana e olelo mai; a e lilo no ka mea e olelo ana, i naaupo ia'u.
11Vậy nếu tôi chẳng biết nghĩa của tiếng nói đó, thì người nói tiếng đó sẽ coi tôi là mọi, và tôi cũng coi họ là mọi nữa.
12Pela hoi, me oukou e iini nei i na oihana o ka Uhane, e iini oukou, i pakela ae oukou i ka hoonaauao aku i ka ekalesia.
12Aáy vậy, vì anh em nôn nả ước ao các sự ban cho thiêng liêng, hãy tìm cho được dư dật đặng gây dựng Hội thánh.
13Nolaila, o ka mea olelo i ka olelo e, e pule ia, i hiki ia ia ke hoakaka aku.
13Bởi đó, kẻ nói tiếng lạ, hãy cầu nguyện để được thông giải tiếng ấy.
14No ka mea, ina e pule au ma ka olelo e, ua pule kuu uhane, aka, o ko'u naau ike, ua hua ole ia.
14Vì nếu tôi cầu nguyện bằng tiếng lạ, thì tâm thần tôi cầu nguyện, nhưng trí khôn tôi lơ lửng.
15Heaha la hoi? E pule no wau ma ka uhane, a e pule no hoi ma ka naau ike. E hiraeni no wau ma ka uhane, a e himeni no ma ka naau ike.
15Vậy thì tôi sẽ làm thế nào? Tôi sẽ cầu nguyện theo tâm thần, nhưng cũng cầu nguyện bằng trí khôn. Tôi sẽ hát theo tâm thần, nhưng cũng hát bằng trí khôn.
16Ina e hoomaikai aku oe me ka uhane wale no, pehea la e hiki ai i ka mea e noho ana ma ka naaupo, ke olelo, Amene, i kau hoomaikaf ana aku; no ka mea, aole ia i loho i ka mea au i olelo ai.
16Bằng không, nếu ngươi chỉ lấy tâm thần mà chúc tạ, thì người tầm thường ngồi nghe, chẳng hiểu ngươi nói gì, thể nào họ theo lời chúc tạ mình mà đáp lại rằng “A-men” được?
17Ua pono nae kau hoomaikai ana, aka, aole kela i hoonaauaoia.
17Thật vậy, lời chúc tạ của ngươi vẫn tốt lành; song kẻ khác chẳng nhờ đó mà được gây dựng.
18Ke aloha aku nei au i ke Akua, e pakela ana au mamua o oukou a pau ma ka olelo i na olelo e:
18Tôi tạ ơn Đức Chúa Trời, vì đã được ơn nói tiếng lạ nhiều hơn hết thảy anh em;
19Aka, ma ka aha ekalesia, no ka hoonaauao ia hai, ua oi aku ko'u make make o olelo i na huaolelo elima ma ke ano maopopo, i na huaolelo he umi tausani ma ka olelo e.
19nhưng thà tôi lấy năm lời bằng trí khôn mình mà rao giảng trong Hội thánh, để được dạy bảo kẻ khác, hơn là lấy một vạn lời bằng tiếng lạ.
20E na hoahanau e, mai lilo oukou i kamalii ma ka naauao; ma ka hewa no e kamalii ai, aka, ma ka naauao e lilo oukou i kanaka makua.
20Hỡi anh em, về sự khôn sáng, chớ nên như trẻ con; nhưng về sự gian ác, thật hãy nên như trẻ con vậy. Còn về sự khôn sáng, hãy nên như kẻ thành nhân.
21Ua palapalaia ma ke kanawai, Me na olelo e, a me na lehelehe e, e olelo aku ai au i keia poe kanaka; aole nae lakou e hoolohe mai ia'u ma ia mea, wahi a ka Haku.
21Trong luật pháp có chép rằng: Chúa phán: Ta sẽ nhờ những người nói tiếng lạ, và môi miệng người ngoại quốc mà phán cho dân nầy; dầu vậy họ cũng chẳng nghe ta.
22No ia mea, he hoailona ka olelo e, aole no ka poe manaoio, aka, no ka poe manaoio ole: a o ka wanana, aole ia na ka poe hoomaloka, na ka poe manaoio no.
22Thế thì, các thứ tiếng là một dấu, chẳng cho người tin Chúa, song cho người chẳng tin; còn như lời tiên tri là một dấu, chẳng phải cho người không tin, song cho người tin Chúa.
23Nolaila, ina i akoakoaia ka ekalesia a pau ma kahi hookahi, a olelo lakou a pau ma ka olelo ano e, a i komo mai hoi ka poe naaupo paha, a hoomaloka paha, aole anei lakou e olelo ae, Ua hehena oukou?
23Vậy, khi cả Hội thánh nhóm lại một nơi, nếu ai nấy đều nói tiếng lạ, mà có kẻ tầm thường hoặc người chẳng tin vào nghe, họ há chẳng nói anh em là điên cuồng sao?
24Aka, ina wanana na mea a pau, a hele mai kekahi mea hoomaloka, a naaupo paha, ua aoia oia e na mea a pau, ua ahewaia oia e na mea a pau.
24Song nếu ai nấy đều nói tiên tri, mà có người chẳng tin hoặc kẻ tầm thường vào nghe, thì họ sẽ bị mọi người bắt phục, và bị mọi người xét đoán,
25Pela e hoomaopopoia mai ai na mea huna o kona naau; a e hoomana aku ia i ke Akua, me ka moe o kona alo ilalo, a e hai aku no hoi ia i ka oiaio o ko ke Akua noho pu ana me oukou.
25sự kín giấu trong lòng họ đã tỏ ra; họ bèn sấp mặt xuống đất, thờ lạy Đức Chúa Trời, và nói rằng thật có Đức Chúa Trời ở giữa anh em.
26Pehea la hoi, e na hoahanau? I ko oukou akoakoa ana, he himeni no ka kela mea keia mea, a he manao no, a he olelo ano e, he wanana, a he olelo hoakaka. E pono no e hanaia na mea a pau ma ka mea e naauao ai.
26Hỡi anh em, nên nói thể nào? Khi anh em nhóm lại với nhau, trong anh em, ai có bài ca, hoặc bài giảng dạy, hoặc lời tỏ sự kín nhiệm, hoặc nói tiếng lạ, hoặc giải tiếng lạ chăng? Hãy làm hết thảy cho được gây dựng.
27Ina e olelo kekahi ma ka olelo e, i elua wale no laua e olelo, a ina ekolu, ua nui loa ia; e pakahi hoi lakou, a na kekahi e hoakaka mai.
27Ví bằng có người nói tiếng lạ, chỉ nên hai hoặc ba người là cùng; mỗi người phải nói theo lượt mình, và phải có một người thông giải.
28Aka, ina aole mea nana e hoakaka mai, e noho malie ia maloko o ka ekalesia; a e olelo oia ia ia iho, a i ke Akua hoi.
28Nếu không có ai thông giải, thì người đó phải làm thinh ở trong Hội thánh, mình nói với mình và với Đức Chúa Trời.
29A o na kau la hoi, e olelo lakou, i elua, a i ekolu paha, a e nana mai hoi ka poe i koe.
29Người nói tiên tri cũng chỉ nên có hai hoặc ba người nói mà thôi, còn những kẻ khác thì suy xét.
30Ina he mea i hoikeia mai na kekahi e noho ana, e pono no i ka mea mua e noho malie.
30Song, nếu một người trong bọn người ngồi, có lời tỏ sự kín nhiệm, thì người trước nhất phải nín lặng.
31No ka mea, e pono ia oukou a pau ke wanana pakahi aku, i naauao na kanaka a pau, i oluolu hoi na kanaka a pau.
31Bởi vì anh em đều cứ lần lượt mà nói tiên tri được cả, để ai nấy đều được dạy bảo, ai nấy đều được khuyên lơn.
32No ka mea, o ka mea a ka Uhane iloko o ke kaula, ua malama no ia i ke kaula.
32Tâm thần của các đấng tiên tri suy phục các đấng tiên tri.
33Aole na ke Akua mai ka uluaoa, o ke kuikahi no kana, a pela no ma na halawai haipule a pau.
33Vả, Đức Chúa Trời chẳng phải là Chúa sự loạn lạc, bèn là Chúa sự hòa bình. Hãy làm như trong cả Hội thánh của các thánh đồ,
34E noho malie no ka oukou wahine ma ka aha ekalesia, no ka mea, aole i aeia mai ia lakou e olelo; e hoolohe wale no lakou, e like me ka ke kanawai i olelo mai ai.
34đờn bà phải nín lặng trong đám hội của anh em: họ không có phép nói tại nơi đó, nhưng phải phục tùng cũng như luật pháp dạy.
35A ina manao lakou e aoia, e ninau lakou i ka lakou kane, ma ko lakou wahi iho; no ka mea, he mea hilahila ke olelo ka wahine ma ka ekalesia.
35Nhược bằng họ muốn học khôn điều gì, thì mỗi người trong đám họ phải hỏi chồng mình ở nhà; bởi vì đờn bà nói lên trong Hội thánh là không hiệp lẽ.
36Mai o oukou mai anei ka olelo a ke Akua i hele mai ai? I hele aku anei ia io oukou la wale no?
36Có phải là đạo Đức Chúa Trời ra từ nơi anh em, hoặc chỉ đến cùng anh em mà thôi chăng?
37Ina i manao kekahi o oukou, he kaula paha ia, he mea ike i ka mea o ka uhane paha, e pono ia ia ke ae mai i ka oiaio o ka olelo a'u e palapala aku nei, o ke kauoha keia a ka Haku.
37Nếu ai tưởng mình là tiên tri, hay là được Đức Thánh Linh soi sáng, thì người ấy hãy biết rằng đều tôi viết cho anh em đây là mạng lịnh của Chúa.
38Aka, ina e naaupo kekahi, e naaupo no.
38Mà nếu ai muốn bỏ qua thì mặc họ bỏ qua!
39No ia mea, e na hoahanau, e iini oukou ma ka wanana, aole hoi e papa aku i ka olelo ana ma ka olelo e.
39Aáy vậy, hỡi anh em, hãy trông mong ơn nói tiên tri, và đừng ngăn trở chi về điều nói tiếng lạ.
40E hana i na mea a pau ma ka maikai, a me ka hoonohonoho pono.
40Nhưng mọi sự đều nên làm cho phải phép và theo thứ tự.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.