Korineto I. 11
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1E HAHAI mai oukou ia'u, e like me au ia Kristo.
1Hãy bắt chước tôi, cũng như chính mình tôi bắt chước Đấng Christ vậy.
2E na hoahanau, ke hoomaikai aku nei au ia oukou i ko oukou hoomanao ana mai ia'u ma na mea a pau, a me ko oukou malama ana i na oihana, e like me ko'u haawi ana aku ia oukou.
2Tôi khen anh em vì hay nhớ đến tôi trong mọi dịp, và lấy lòng trung tín mà giữ những điều tôi đã dạy dỗ anh em.
3Ke makemake nei au e ike oukou, o Kristo no ke poo o na kanaka a pau; a o ke kane, oia ke poo o ka wahiue; a o ke Akua hoi, oia ko Kristo poo.
3Dầu vậy, tôi muốn anh em biết Đấng Christ là đầu mọi người; người đờn ông là đầu người đờn bà; và Đức Chúa Trời là đầu của Đấng Christ.
4O kela Kane keia kane e pule ana, a e wanana ana me ka uhiia o ke poo, ua hoohilahila ia i kona poo.
4Phàm người đờn ông cầu nguyện hoặc giảng đạo mà trùm đầu lại, thì làm nhục đầu mình.
5A o kela wahine keia wahine, e pule ana, a e wanana ana me ka uhi ole ia o ke poo, ua hoohilahila ia i kona poo; no ka mea, ua like no ia me ke amuia.
5Nhưng phàm người đờn bà cầu nguyện hoặc giảng đạo mà không trùm đầu lại, thì làm nhục đầu mình: thật chẳng khác gì đã cạo đầu vậy.
6No ka mea, ina aole e uhiia ka wahine, e amuia oia; aka, ina he mea hilahila i ka wahine, ke amuia a ke akoia, alaila, e uhiia oia.
6Ví bằng người đờn bà không trùm đầu, thì cũng nên hớt tóc đi. Song nếu người đờn bà lấy sự hớt tóc hoặc cạo đầu làm xấu hổ, thì hãy trùm đầu lại.
7Aole hoi e pono ke uhiia ko ke kane poo, no ka mea, oia ka mea like, a me ka nani o ke Akua; aka, o ka wahine, oia ka nani o ke kane.
7Vả, đờn ông là hình ảnh và sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, thì không nên trùm đầu; nhưng đờn bà là sự vinh hiển của đờn ông.
8Aole na ka wahine mai ke kane; na ke kane mai ka wahine.
8Bởi chưng không phải đờn ông ra từ đờn bà, bèn là đờn bà ra từ đờn ông;
9Aole hoi i hanaia ke kane na ka wahine; o ka wahine no ua ke kane.
9không phải đờn ông vì cớ đờn bà mà được dựng nên, bèn là đờn bà vì cớ đờn ông vậy.
10Nolaila he pono no i ka wahine e uhiia kona poo, no na anela.
10Bởi đó, vì cớ các thiên sứ, đờn bà phải có dấu hiệu trên đầu chỉ về quyền phép mình nương cậy.
11Aole hoi he kane wale no me ka wahine ole; aole he wahine wale no me ke kane ole iloko o ka Haku.
11Song trong Chúa thì chẳng phải đờn bà ngoại đờn ông, cũng chẳng phải đờn ông ngoại đờn bà;
12E like me ka wahine, na ke kane mai, pela no ke kane, no ka wahine mai ia; a na ke Akua mai na mea a pau.
12vì, như đờn bà đã ra từ đờn ông, thì đờn ông cũng sanh bởi đờn bà, và cả thảy đều ra bởi Đức Chúa Trời.
13O oukou iho e noonoo pono; he mea maikai anei no ka wahine, ke pule i ke Akua, me ka uhi ole ia?
13Chính anh em hãy đoán xét điều nầy: đờn bà cầu nguyện Đức Chúa Trời mà không trùm đầu là hiệp lẽ chăng?
14Aole anei i ao mai na mea maoli ia oukou, ina e loloa ka lauoho o ke kane, he mea hilahila ia nona?
14Chính lẽ tự nhiên há chẳng dạy cho anh em biết đờn ông để tóc dài thì lấy làm hổ thẹn sao?
15Aka ina i loloa ka lauoho o ka wihine, he mea ia e nani ai; no ka mea, na haawiia mai kona lauoho i uhi nona.
15Nhưng, nếu đờn bà để tóc dài thì là lịch sự cho mình, vì đã ban tóc dài cho người, dường như khăn trùm vậy.
16Aka, ina i manao kekahi e hoopaapaa, aole pela ko makou aoao, aole hoi ko na ekalesia o ke Akua.
16Bằng có ai muốn cãi lẽ, thì chúng tôi không có thói quen ấy, mà các Hội thánh Đức Chúa Trời cũng không có nữa.
17I keia mea a'u o hai aku nei, aole au e hoomaikai aku ia oukou, no ka mea, i ko oukou akoakoa ana, aole no ka pono, no ka hewa no:
17Trong khi tôi truyền lời cáo dụ nầy, chẳng phải khen anh em, vì sự nhóm lại của anh em không làm cho mình hay hơn mà làm cho mình dở hơn.
18No ka mea, eia ka mua, i ko oukou akoakoa ana ma ka ekalesia, he lohe ko'u, ua ku e oukou i kekahi i kekahi; a ke manao nei kahi naau o'u he oiaio.
18Trước hết, tôi nghe rằng khi anh em có sự nhóm họp Hội thánh, thì sanh ra sự phân rẽ; tôi cũng hơi tin điều đó.
19E oiaio no, e hiki mai no ka manao ku e iwaena o oukou; i maopopo mai ka poe i aponoia iwaena o oukou.
19Vì chắc trong vòng anh em phải có bè đảng, hầu cho được nhận biết trong anh em những kẻ nào thật là trung thành.
20I ko oukou akoakoa ana i kahi hookahi, aole ia e ai i ka ahaaina a ka Haku;
20Vậy, khi anh em nhóm nhau lại một chỗ, ấy chẳng còn phải là Tiệc thánh của Chúa mà anh em ăn;
21No ka mea, i ka oukou ahaaina ana, ai wikiwiki no kola mea keia mea i kana ai iho, a ua poloii kekahi, a ua ona kekahi.
21bởi vì lúc ngồi ăn, ai cũng nôn nả mà ăn bữa riêng mình, đến nỗi người nọ chịu đói, còn kẻ kia thì quá độ.
22Aole anei o oukou hale, malaila e ai ai, a e inu ai? Ke hoonwahawaha nei anei oukou i ka ekalesia o ke Akua, me ka hoohilahila i ka poe nele? Pehea la wau e olelo aku ai ia oukou? E hoomaikai anei au ia oukou i keia? Aole au e hoomaikai.
22Anh em há chẳng có nhà để ăn uống sao? Hay là anh em khinh bỉ Hội thánh của Đức Chúa Trời, muốn làm cho những kẻ không có gì phải hổ thẹn? Tôi nên nói chi với anh em? Có nên khen anh em không? Trong việc nầy tôi chẳng khen đâu.
23No ka mea, ua loaa ia'u na ka Haku mai, ka mea a'u i haawi aku ai na oukou. O ka Haku o Iesu, i ka po ana i kumakaiaia'i, lalau aku la ia i ka berena:
23Vả, tôi có nhận nơi Chúa điều tôi đã dạy cho anh em: ấy là Đức Chúa Jêsus, trong đêm Ngài bị nộp, lấy bánh,
24A pau ka hoalohaloha ana, wawahi iho la ia, i aku la, E lawe oukou, e ai; eia no ko'u kino i wawahiia no oukou. E hana oukou i keia me ka hoomanao mai ia'u.
24tạ ơn, rồi bẻ ra mà phán rằng: Nầy là thân thể ta, vì các ngươi mà phó cho; hãy làm điều nầy để nhớ ta.
25Pela no hoi ke kiaha, mahope o ka ai ana, i aku la, O keia kiaha, o ke kauoha hou ia iloko o ko'u koko. E hana oukou i keia, i ko oukou wa e inu ai, me ka hoomanao mai ia'u.
25Cũng một thể ấy, sau khi ăn bữa tối rồi, Ngài lấy chén và phán rằng: Chén nầy là sự giao ước mới trong huyết ta; hễ khi nào các ngươi uống, hãy làm điều nầy để nhớ ta.
26No ka mea, i na wa a pau loa a oukou e ai ai i keia berena, a o inu hoi i keia kiaha, e hai aku ana oukou i ka make o ka Haku, a hiki hou mai ia.
26Aáy vậy, mỗi lần anh em ăn bánh nầy, uống chén nầy, thì rao sự chết của Chúa cho tới lúc Ngài đến.
27Nolaila, o ka mea e ai i keia berena, a e inu i ko ke kiaha o ka Haku, me ka pono ole, ua hewa ia i ke kino a me ke koko o ka Haku.
27Bởi đó, ai ăn bánh hoặc uống chén của Chúa cách không xứng đáng, thì sẽ mắc tội với thân và huyết của Chúa.
28E noonoo ke kanaka ia ia iho, a pela ia e ai ai i ka berena, a e inu ai hoi i ko ke kiaha.
28Vậy mỗi người phải tự xét lấy mình, và như thế mới ăn bánh uống chén ấy;
29No ka mea, o ke kanaka nana e ai, a e inu hoi me ka pono ole, ua ai no ia a ua inu i ka hoahewaia nona iho, no kona hoomaopopo ole ana i ke kino o ka Haku.
29vì người nào không phân biệt thân Chúa mà ăn bánh uống chén đó, tức là ăn uống sự xét đoán cho mình.
30Nolaila, ua nui loa ka poe o oukou i nawaliwali, a i maimai, a ua nui no ka poe i moe.
30Aáy vì cớ đó mà trong anh em có nhiều kẻ tật nguyền, đau ốm, và có lắm kẻ ngủ.
31Ina i hookolokolo kakou ia kakou iho, alaila, aole kakou e hoahewaia mai.
31Nếu chúng ta biết xét đoán lấy mình, thì khỏi bị xét đoán.
32Aka, i ko kakou hoahewaia ua hahania kakou e ka Haku, i ole ai kakou e hoahewa pu ia me ko ke ao nei.
32Song khi chúng ta bị Chúa xét đoán, thì bị Ngài sửa phạt, hầu cho khỏi bị án làm một với người thế gian.
33No ia mea, e o'u hoahanau e, i ko oukou akoakoa ana e ai ai, e kakali oukou i kekahi i kekahi.
33Hỡi anh em, vậy thì lúc anh em hội lại để ăn chung với nhau, hãy chờ đợi nhau.
34A ina e pololi kekahi, e ai ia ma kona wahi iho; i ole oukou e hoohewaia, i ko oukou akoakoa ana. A o na mea e ae, a hiki aku an, na'u no ia e hooponopono aku.
34Ví bằng có ai đói, hãy ăn tại nhà mình, hầu cho anh em không nhóm lại để mà chuốc lấy sự đoán xét. Còn các việc khác, lúc tôi đến sẽ đoán định.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.