I. Korinthalani
Chapter 11
Testamenta Marra (Dieri …
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

I. Korinthalani 11

Testamenta Marra (Dieri New Testament)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Ngakangu karipaterianau, worderu ngani Christungu.
1Hãy bắt chước tôi, cũng như chính mình tôi bắt chước Đấng Christ vậy.
2Ngato jurana jurakokai, ngatata worajai, ngangau jura pratjanani ngana milingeru ngundrai, ja jirijiribani jaura ngamalkai, worderu ngato tanana jurangu jinkina wonti.
2Tôi khen anh em vì hay nhớ đến tôi trong mọi dịp, và lấy lòng trung tín mà giữ những điều tôi đã dạy dỗ anh em.
3Ngani jertapateriai jura milkila nganananto, materaia mangatandra Christus nganai; widlaia mangatandra materi nganai; Christuni mangatandra Goda nganai.
3Dầu vậy, tôi muốn anh em biết Đấng Christ là đầu mọi người; người đờn ông là đầu người đờn bà; và Đức Chúa Trời là đầu của Đấng Christ.
4Materali ngatjinani kara talpadakanani kara, ja kakabilli mangatandrani ngamalkanani, nulu mangatandra nunkani nintali ngankai.
4Phàm người đờn ông cầu nguyện hoặc giảng đạo mà trùm đầu lại, thì làm nhục đầu mình.
5Widlali ngatjinani kara talpadakanani kara mangatandra wata walpaterini, nandru mangatandra nankani nintali ngankai; ngangau jenia para wokaribani jeribaka nganai.
5Nhưng phàm người đờn bà cầu nguyện hoặc giảng đạo mà không trùm đầu lại, thì làm nhục đầu mình: thật chẳng khác gì đã cạo đầu vậy.
6Widlali mangatandra wata walpaterinani, nandru ba kana para wokaribananto; widlani ninta ngananani para wokaribala kara balurila kara, jeruja nani walpaterinanto.
6Ví bằng người đờn bà không trùm đầu, thì cũng nên hớt tóc đi. Song nếu người đờn bà lấy sự hớt tóc hoặc cạo đầu làm xấu hổ, thì hãy trùm đầu lại.
7Materi mangatandra wata walpaterinanto, ngangau nau Godaia mudla ja pirnala nganai; ja widla materaia pirnala nganai.
7Vả, đờn ông là hình ảnh và sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, thì không nên trùm đầu; nhưng đờn bà là sự vinh hiển của đờn ông.
8Ngangau materi wata widlandru, a‐ai, widla materandru nganai.
8Bởi chưng không phải đờn ông ra từ đờn bà, bèn là đờn bà ra từ đờn ông;
9Ngangau Nulia materi wata widlandru pantjimana wonti, a‐ai, widla materandru.
9không phải đờn ông vì cớ đờn bà mà được dựng nên, bèn là đờn bà vì cớ đờn ông vậy.
10Jendrangundruja widlali ngurula mangatandrani ngamalkananto angelandru.
10Bởi đó, vì cớ các thiên sứ, đờn bà phải có dấu hiệu trên đầu chỉ về quyền phép mình nương cậy.
11Windri materi widla panini, ja widla materi panini, wata Kaparani nganai.
11Song trong Chúa thì chẳng phải đờn bà ngoại đờn ông, cũng chẳng phải đờn ông ngoại đờn bà;
12Ngangau worderu widla materandru, jeruja bakana materi widlandru, ja pratjana Godandru.
12vì, như đờn bà đã ra từ đờn ông, thì đờn ông cũng sanh bởi đờn bà, và cả thảy đều ra bởi Đức Chúa Trời.
13Muntali ngundranau jenia talku nganai kara, widla wata walpaterini Godani ngatjinanto?
13Chính anh em hãy đoán xét điều nầy: đờn bà cầu nguyện Đức Chúa Trời mà không trùm đầu là hiệp lẽ chăng?
14Mangatandra muntali jurangu wata wondrai, materali para wirdi ngamalkanani, jenia nunkangu ninta nganai?
14Chính lẽ tự nhiên há chẳng dạy cho anh em biết đờn ông để tóc dài thì lấy làm hổ thẹn sao?
15Widlali para wirdi ngamalkanani, jenia nankangu pirnala nganai? Ngangau para nankangu walpaterini matja jinkina.
15Nhưng, nếu đờn bà để tóc dài thì là lịch sự cho mình, vì đã ban tóc dài cho người, dường như khăn trùm vậy.
16Kulnujeli jurangundru ngantjanani jatamalila, ngaiani wata jenia ngankai, bakana wata Godaia mili wolara.
16Bằng có ai muốn cãi lẽ, thì chúng tôi không có thói quen ấy, mà các Hội thánh Đức Chúa Trời cũng không có nữa.
17Ngato jenia jirijiribanani, ngato jenia wata jurakokai, jura wata jurboriai ngumuja, a‐ai, madlentjaia.
17Trong khi tôi truyền lời cáo dụ nầy, chẳng phải khen anh em, vì sự nhóm lại của anh em không làm cho mình hay hơn mà làm cho mình dở hơn.
18Ngopera, jura jurborinani mili wolarani, ngato ngarai, tidatida nganai jurangu terti, ja palpa ngato morlalu ngundrai.
18Trước hết, tôi nghe rằng khi anh em có sự nhóm họp Hội thánh, thì sanh ra sự phân rẽ; tôi cũng hơi tin điều đó.
19Ngangau mudlawariwari jurangu terti nganananto, ngangau wonkietja tinkari pantjinanto jurangundru.
19Vì chắc trong vòng anh em phải có bè đảng, hầu cho được nhận biết trong anh em những kẻ nào thật là trung thành.
20Jura jurborinaia jurborinani, jura ngandandariai Kaparaia buka tajila.
20Vậy, khi anh em nhóm nhau lại một chỗ, ấy chẳng còn phải là Tiệc thánh của Chúa mà anh em ăn;
21Ngangau kulno ja kulnujeli buka nunkani bukani ngopera tajiai, jeruja kulno mauali nganai ja kulno kaljura.
21bởi vì lúc ngồi ăn, ai cũng nôn nả mà ăn bữa riêng mình, đến nỗi người nọ chịu đói, còn kẻ kia thì quá độ.
22Jura wata punga ngamalkai tajila ja tapala kara? Jura Godaia mili wolara waka ngundrai, ja tanana nintali ngankai, tanali panila ngamalkai kara? Mina ngani jurangu jatananto? Ngato jurana jurakokananto? Jendrangundruja ngato jurana wata jurakokai. (Dakani jaura kuljakulja Thursdayni.)
22Anh em há chẳng có nhà để ăn uống sao? Hay là anh em khinh bỉ Hội thánh của Đức Chúa Trời, muốn làm cho những kẻ không có gì phải hổ thẹn? Tôi nên nói chi với anh em? Có nên khen anh em không? Trong việc nầy tôi chẳng khen đâu.
23Ngato jenia Kaparandru manina wonti, mina ngato jurangu bakana jinkina wonti: Kapara Jesujeli nunkangupini tinkani, nulu ninaia matja wondawondana, Nulia buka patana wonti;
23Vả, tôi có nhận nơi Chúa điều tôi đã dạy cho anh em: ấy là Đức Chúa Jêsus, trong đêm Ngài bị nộp, lấy bánh,
24Ja Nulia jurakokana wonti, ja ninaia wokaribana wonti ja jatana wonti: „Patanimai ja tajianimai; Naupini ngani palku nganai, Nauja jurangu nganai, jenia ngankanau ngakangu ngundrala.“
24tạ ơn, rồi bẻ ra mà phán rằng: Nầy là thân thể ta, vì các ngươi mà phó cho; hãy làm điều nầy để nhớ ta.
25Jeruja bakana koko, tajinani ngadani, ja jatana wonti: „Naupini koko Testamenta marra nganai, ngakangu kumarani; jenia ngankanau jeruntjaia pota jura tapai, ngakangu ngundrala.“
25Cũng một thể ấy, sau khi ăn bữa tối rồi, Ngài lấy chén và phán rằng: Chén nầy là sự giao ước mới trong huyết ta; hễ khi nào các ngươi uống, hãy làm điều nầy để nhớ ta.
26Ngangau jeruntjaia poto jura ninapini buka tajiai, ja ninapini koko tapai, jura Kaparaia nari kaukaubai, Nauja wokarala tikanantulu.
26Aáy vậy, mỗi lần anh em ăn bánh nầy, uống chén nầy, thì rao sự chết của Chúa cho tới lúc Ngài đến.
27Jeruja: Warle wata talku ninapini buka tajiai kara, Kaparaia koko tapai kara, nulu Kaparaia palkundru ja kumarandru kalala manila nganai.
27Bởi đó, ai ăn bánh hoặc uống chén của Chúa cách không xứng đáng, thì sẽ mắc tội với thân và huyết của Chúa.
28Kulno munta winpateriatimai, ja jeruja nulu bukandru tajiatimai ja kokundru tapaiatimai.
28Vậy mỗi người phải tự xét lấy mình, và như thế mới ăn bánh uống chén ấy;
29Ngangau warle wata talku tajiai ja tapai, nulu muntali kalala tajiai ja tapai, ngangau nulu Kaparaia palku wata pilki ngundrai.
29vì người nào không phân biệt thân Chúa mà ăn bánh uống chén đó, tức là ăn uống sự xét đoán cho mình.
30Jendrangundruja jurangu jela waltowalto ja muntja marapu nganai, ja marapu matja palina.
30Aáy vì cớ đó mà trong anh em có nhiều kẻ tật nguyền, đau ốm, và có lắm kẻ ngủ.
31Ngaiani munta kalala ngundraterinani, ngaiani wata kalala maninani.
31Nếu chúng ta biết xét đoán lấy mình, thì khỏi bị xét đoán.
32Ngaiani kalala maninani, Kaparali ngaianina nandrai, ngaiani wata mitalali jela kalala maninanto.
32Song khi chúng ta bị Chúa xét đoán, thì bị Ngài sửa phạt, hầu cho khỏi bị án làm một với người thế gian.
33Ngangau, ngakani ngatata worajai, jura jurborinani bukaia, kalkamalianimai.
33Hỡi anh em, vậy thì lúc anh em hội lại để ăn chung với nhau, hãy chờ đợi nhau.
34Kulno maua ngananani, nulu pungani tajiatimai, jura wata kalalaia jurborinanto. Mina morla, jenia ngato kurala nganai ngani wokaranani.
34Ví bằng có ai đói, hãy ăn tại nhà mình, hầu cho anh em không nhóm lại để mà chuốc lấy sự đoán xét. Còn các việc khác, lúc tôi đến sẽ đoán định.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.