1 Korin 12
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Nawkamyanawk, Muithla bang ih tangqumnawk panoek ai ah na oh o hanah ka koeh ai.
1Hỡi anh em, tôi không muốn anh em chẳng biết về các sự ban cho thiêng liêng.
2Nangcae loe lok apae thai ai krang khaeah hoih ving ih, Gentel kami ah na oh o boeh, tito na panoek o.
2Anh em biết khi mình còn là người ngoại đạo, bị khuyên dỗ hướng về các thần tượng câm, tùy ý người ta dẫn dụ mình.
3To pongah mi kawbaktih mah doeh Sithaw ih Muithla hoiah lokthuih naah, Jesu tangoenghaih lok to thui vai ai: Kacai Muithla ai ah loe, mi mah doeh Jesu loe Angraeng ni, tiah thui thai ai, tiah na panoek o thai han ih ni kang thuih o.
3Bởi đó, tôi tỏ cùng anh em, chẳng ai cảm Thánh Linh của Đức Chúa Trời, mà nói rằng: Đức Chúa Jêsus đáng nguyền rủa! Nếu không cảm Đức Thánh Linh, cũng chẳng ai xưng Đức Chúa Jêsus là Chúa!
4Muithla loe maeto khue ni, toe tangqum loe congca oh.
4Vả, có các sự ban cho khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Thánh Linh.
5Sithaw toksakhaih congca oh, toe Angraeng loe maeto khue ni.
5Có các chức vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa.
6Toksakhaih congca oh, toe kaminawk boih khaeah toksah Sithaw loe maeto khue ni.
6Có các việc làm khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Chúa Trời, là Đấng làm mọi việc trong mọi người.
7To langlacadoeh atho oh thai boih hanah, Muithla amtuenghaih to kami boih hanah paek.
7Đức Thánh Linh tỏ ra trong mỗi một người, cho ai nấy đều được sự ích chung.
8Muithla mah kami maeto khaeah palunghahaih to paek; kalah maeto khaeah kathuk lok panoekthaihaih to paek;
8Vả, người nầy nhờ Đức Thánh Linh, được lời nói khôn ngoan; kẻ kia nhờ một Đức Thánh Linh ấy, cũng được lời nói có tri thức.
9kalah maeto khaeah tanghaih to paek; kalah maeto khaeah ngantuisakhaih to paek;
9Bởi một Đức Thánh Linh, cho người nầy được đức tin; cũng bởi một Đức Thánh Linh ấy, cho kẻ kia được ơn chữa tật bịnh;
10kalah maeto khaeah dawnrai hmuen sak thaihaih to paek; kalah maeto khaeah lokthuih thaihaih to paek; kalah maeto khaeah Sithaw ih Muithla panoek thaihaih to paek; kalah maeto khaeah lok congca apaeh thaihaih to paek; kalah maeto khaeah loknawk leh thaihaih to paek.
10người thì được làm phép lạ; kẻ thì được nói tiên tri; người thì được phân biệt các thần; kẻ thì được nói nhiều thứ tiếng khác nhau, người thì được thông giải các thứ tiếng ấy.
11Toe hae hmuennawk boih loe maeto ah kaom kanghmong Muithla mah ni, a koeh baktiah kami boih khaeah paek.
11Mọi điều đó là công việc của đồng một Đức Thánh Linh mà thôi, theo ý Ngài muốn, phân phát sự ban cho riêng cho mỗi người.
12Takpum maeto pongah ngan kangphae oh mang, toe to tiah kangphae ngannawk loe takpum maeto ah ni oh: Kri doeh to tiah oh toeng.
12Vả, như thân là một, mà có nhiều chi thể, và như các chi thể của thân dầu có nhiều, cũng chỉ hiệp thành một thân mà thôi, Đấng Christ khác nào như vậy.
13To baktih toengah Judah kami maw, to tih ai boeh loe Gentel kami maw, to tiah ai boeh loe misong maw, to tih ai boeh loe kaloih kami maw, Muithla maeto hoiah takpum maeto ah tuinuemhaih a hnuk o moe, Muithla maeto ah ni a naek o boih.
13Vì chưng chúng ta hoặc người Giu-đa, hoặc người Gờ-réc, hoặc tôi mọi, hoặc tự chủ, đều đã chịu phép báp-têm chung một Thánh Linh để hiệp làm một thân; và chúng ta đều đã chịu uống chung một Thánh Linh nữa.
14Takpum loe maeto khue ah om ai, angphae mangh.
14Thân cũng chẳng phải có một chi thể, bèn là nhiều chi thể.
15Khok mah, Kai loe ban na ai ni, kai loe takpum thungah ka om ai, tiah thui nahaeloe, to tiah a thuih pongah takpum thungah om ai boeh maw?
15Nếu chơn rằng: vì ta chẳng phải là tay, nên ta không thuộc về thân, thì chẳng phải bởi đó chơn không có phần trong thân.
16To baktih toengah naa mah, Kai loe mik na ai ni, takpum thungah ka om ai, tiah thui nahaeloe, to tiah a thuih pongah takpum thungah om ai boeh maw?
16Và nếu tai rằng: Vì ta chẳng phải là mắt, nên ta không thuộc về thân, thì tai chẳng phải bởi đó không có phần trong thân.
17Takpum boih mik maeto ah om nahaeloe, lok thaihaih loe naa ah maw om tih? Takpum boih lok thaihaih ah om nahaeloe, naa ah maw ahmui thaihaih to om tih?
17Ví bằng cả thân đều là mắt, thì sự nghe ở đâu? Nếu cả thân đều là tai, thì sự ngửi ở đâu?
18Toe vaihi loe Sithaw mah a koeh baktiah, kangphae takpum boih to, takpum thungah suek boeh.
18Nhưng bây giờ, Đức Chúa Trời đã sắp đặt các chi thể của thân chúng ta, ban cho mỗi một chi thể cái địa vị theo ý Ngài lấy làm tốt mà chỉ định.
19Kangphae ngannawk boih to maeto ah om o soe nahaeloe, takpum loe naa ah maw om tih boeh?
19Nếu chỉ có một chi thể mà thôi, thì cái thân ở đâu?
20Toe vaihiah ngan kangphae oh mangh, toe takpum loe maeto ni.
20Vậy, có nhiều chi thể, song chỉ có một thân.
21To pongah mik mah ban khaeah, Nang angtoenghaih ka tawn ai, tiah thui thai ai: lu mah doeh khok khaeah, Nang aloehaih ka tawn ai, tiah thui thai ai.
21Mắt không được nói với bàn tay rằng: Ta chẳng cần đến mầy; đầu cũng chẳng được nói với chơn rằng: Ta chẳng cần đến bay.
22To tiah na ai ni, takpum thungah thacak ai koekah kamtueng kangphae ngannawk to lokpui ah oh lat.
22Trái lại, các chi thể của thân xem ra rất yếu đuối lại là cần dùng.
23Pakoeh han krah ai ah a poek o ih kangphae ngannawk to pakoeh kue han oh lat; khet kamcuk ai kangphae ngannawk to khet kamcukah oh lat.
23Chi thể nào trong thân chúng ta nghĩ là hèn hạ hơn, thì chúng ta tôn trọng hơn; chi thể nào chẳng đẹp, thì chúng ta lại trau giồi hơn,
24Kahoih ngan kangphae loe to tiah khet han angai ai: toe Sithaw mah takpum to kangvan ah sak moe, kahoih ai kangphae ngan to lokpui ah a suek lat:
24còn như cái nào đã đẹp rồi, thì không cần trau giồi. Nhưng Đức Chúa Trời đã sắp đặt thân người, để chi thể nào thiếu thốn thì được quí trọng hơn,
25takpum to tapraek han om ai; toe kangphae ngannawk to kangvan ah khetzawn boih han angaih.
25hầu cho trong thân không có sự phân rẽ, mà các chi thể phải đồng lo tưởng đến nhau.
26Ngan kangphae maeto mah nathaih tongh naah, kangphae ngannawk boih mah kana panoek o, to tih ai boeh loe kangphae ngan maeto pakoeh ah oh naah, kangphae ngannawk boih nawnto anghoe o.
26Lại, trong các chi thể, khi có một cái nào chịu đau đớn, thì các cái khác đều cùng chịu; và khi một cái nào được tôn trọng, thì các cái khác đều cùng vui mừng.
27Nangcae loe vaihi Kri takpum ah ni na oh o moe, Anih ih kangphae ngan ah ni na oh o boih.
27Vả, anh em là thân của Đấng Christ, và là chi thể của thân, ai riêng phần nấy.
28Sithaw mah hmaloe koekah patoeh ih kaminawk, hnetto haihah loe tahmaanawk, thumto haihah loe patukkungnawk to kricaabu hanah paek, to pacoengah dawnrai hmuen sah kami, to pacoengah ngantuihaih tangqum tawn kami, minawk abom thaih kami, ukthaih kami, lok congca apae thaih kaminawk to paek.
28Đức Chúa Trời đã lập trong Hội thánh, thứ nhứt là sứ đồ, thứ nhì là đấng tiên tri, thứ ba là thầy giáo, kế đến kẻ làm phép lạ, rồi kẻ được ơn chữa bịnh, cứu giúp, cai quản, nói các thứ tiếng.
29Nihcae loe patoeh ih kami boih maw? Nihcae loe tahmaa ah maw oh o boih? Nihcae loe patukkung ah maw oh o boih? Nihcae loe dawnrai hmuen sah thaih kami ah maw oh o boih?
29Có phải cả thảy là sứ đồ sao? Cả thảy là tiên tri sao? Cả thảy là thầy giáo sao? Cả thảy đều làm phép lạ sao?
30Nihcae mah ngantuihaih tangqum tawnh o boih maw? Nihcae loe lok congca apaeh o boih maw? Nihcae loe lok leh o thai boih maw?
30Cả thảy đều được ơn chữa bịnh sao? Cả thảy đều nói tiếng lạ sao? Cả thảy đều thông giải tiếng lạ sao?
31Toe kahoih koek tangqum paekhaih to koeh o kue ah: to tih nahaeloe kahoih koek loklam to kang patuek o han.
31Hãy ước ao cho được sự ban cho lớn hơn hết. Bây giờ, tôi sẽ chỉ dẫn cho anh em con đường tốt lành hơn.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.