1 Korin
Chapter 15
Asang Khongca Bible (Eas…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Nawkamyanawk, kahoih tamthanglok to nangcae khaeah ka taphong, ka thuih ih kahoih tamthanglok to na talawk o moe, nang doet o haih boeh;
1Hỡi anh em, tôi nhắc lại cho anh em Tin Lành mà tôi đã rao giảng và anh em đã nhận lấy, cùng đứng vững vàng trong đạo ấy,
2kang thuih o ih kahoih to tamthanglok to kacakah na tapom o nahaeloe, to kahoih tamthanglok hoiah ni pahlong ah na oh o, to tih ai nahaeloe na tang o haih to azom pui ah ni om tih.
2và nhờ đạo ấy, anh em được cứu rỗi, miễn là anh em giữ lấy y như tôi đã giảng cho; bằng không, thì anh em dầu có tin cũng vô ích.
3Ka talawk ih kahoih tamthanglok to kang thuih o hmaloe; Cabunawk mah thuih ih baktih toengah, Kri loe aicae zaehaih pongah duek;
3Vả trước hết tôi đã dạy dỗ anh em điều mà chính tôi đã nhận lãnh, ấy là Đấng Christ chịu chết vì tội chúng ta theo lời Kinh Thánh;
4Anih loe aphum ah oh moe, Cabunawk mah thuih ih baktih toengah Anih loe ni thumto naah angthawk let:
4Ngài đã bị chôn, đến ngày thứ ba, Ngài sống lại, theo lời Kinh Thánh;
5Anih to Kipha mah hnuk, to pacoengah kami hatlai hnetto mah doeh hnuk o:
5và Ngài đã hiện ra cho Sê-pha, sau lại hiện ra cho mười hai sứ đồ.
6to pacoengah anih to cumvai pangato pong kapop nawkamyanawk mah nawnto hnuk o; nihcae thung ih thoemto kaminawk loe vaihi khoek to hing o vop, toe thoemto kaminawk loe duek o boeh.
6Rồi đó, cùng trong một lần, Ngài hiện ra cho hơn năm trăm anh em xem thấy, phần nhiều người trong số ấy hiện bây giờ còn sống, nhưng có mấy người đã ngủ rồi.
7To pacoengah Jakob mah Anih to hnuk, to pacoengah patoeh ih kaminawk boih mah hnuk o.
7Đoạn, Ngài hiện ra cho Gia-cơ, rồi cho các sứ đồ.
8Hnukkhuem koekah loe atue pha ai naah tapen baktiah kaom, kai mah doeh Anih to ka hnuk.
8Rốt lại, sau những người ấy, Ngài cũng hiện ra cho tôi xem, như cho một thai sanh non vậy.
9Kai loe patoeh ih kaminawk thungah kathoeng koekah ka oh, Sithaw kricaabu ka pacaekthlaek pongah, kai loe patoeh ih kami, tiah kawk han doeh kam cuk ai.
9Vì tôi là rất hèn mọn trong các sứ đồ, không đáng gọi là sứ đồ, bởi tôi đã bắt bớ Hội thánh của Đức Chúa Trời.
10Toe Sithaw tahmenhaih rang hoiah vaihi ka oh baktih toengah ka oh thaih: ka nuiah ang paek ih tahmenhaih loe azom pui ai; toe kai loe nihcae boih pongah tok ka sak pop kue: to tiah om cadoeh kai mah ka sah ai, kai hoi nawnto kaom Sithaw tahmenhaih mah ni sak.
10Nhưng tôi nay là người thể nào, là nhờ ơn Đức Chúa Trời, và ơn Ngài ban cho tôi cũng không phải là uổng vậy. Trái lại, tôi đã làm nhiều việc hơn các người khác, nhưng nào phải tôi, bèn là ơn Đức Chúa Trời đã ở cùng tôi.
11To pongah kai mah doeh, to tih ai boeh loe nihcae mah doeh lok to kang taphong o baktiah, nangcae mah doeh na tang o boeh.
11Aáy vậy, dầu tôi, dầu các người khác, đó là điều chúng tôi giảng dạy, và là điều anh em đã tin.
12Kri loe duekhaih thung hoi vaihi angthawk boeh, tiah kang thuih o boeh, toe kawbangmaw nangcae thung ih thoemto kaminawk mah loe kadueh kami angthawk lethaih om ai, tiah thuih o?
12Vả, nếu giảng dạy rằng Đấng Christ đã từ kẻ chết sống lại, thì sao trong anh em có kẻ nói rằng những kẻ chết chẳng sống lại?
13Kadueh kami angthawk lethaih om ai nahaeloe, Kri loe angthawk let ai, tih haih ih ni.
13Nếu những kẻ chết không sống lại, thì Đấng Christ cũng đã chẳng sống lại nữa.
14Duekhaih thung hoi Kri angthawk let ai nahaeloe, aicae mah taphong ih lok loe azom pui ah om ueloe, nangcae tanghaih doeh azom pui ah ni om tih.
14Lại nếu Đấng Christ đã chẳng sống lại, thì sự giảng dạy của chúng tôi ra luống công, và đức tin anh em cũng vô ích.
15Ue, kadueh kami angthawk let ai nahaeloe, anih loe duekhaih thung hoi angthawk let ai to mah, Sithaw mah Kri to duekhaih thung hoi pathawk let boeh, tiah kang thuih o pongah, kaicae loe Sithaw hnukung amsawn ah ni ka om o tih.
15Lại nếu kẻ chết quả thật không sống lại, thì Đức Chúa Trời đã chẳng khiến Đấng Christ sống lại, mà chúng tôi đã làm chứng trái với Đức Chúa Trời rằng Ngài đã làm cho Đấng Christ sống lại, té ra chúng tôi làm chứng dối cho Đức Chúa Trời.
16Kadueh kami angthawk let ai nahaeloe, Kri doeh angthawk let ai, tih haih ih ni.
16Vì nếu kẻ chết chẳng sống lại, thì Đấng Christ cũng đã chẳng sống lại nữa.
17Kri angthawk let ai nahaeloe, nangcae tanghaih loe azom pui ah ni oh; nangcae loe nangmacae zaehaih thungah ni na oh o vop.
17Và nếu Đấng Christ đã chẳng sống lại, thì đức tin anh em cũng vô ích, anh em còn ở trong tội lỗi mình.
18To pacoengah Kri ah iip kaminawk doeh anghmaa angtaa o boeh.
18Vậy, những kẻ ngủ trong Đấng Christ cũng phải hư mất đời đời.
19A tawnh o ih Kri oephaih loe hae long nuiah hing nathung han khue ah om nahaeloe, aicae loe kaminawk boih pongah kamtang koekah ni a oh o.
19Nếu chúng ta chỉ có sự trông cậy trong Đấng Christ về đời nầy mà thôi, thì trong cả mọi người, chúng ta là kẻ khốn nạn hơn hết.
20Toe Kri loe vaihi duekhaih hoi angthawk let boeh pongah, anih loe iip kaminawk ih thingthai tangsuek ah oh.
20Nhưng bây giờ, Đấng Christ đã từ kẻ chết sống lại, Ngài là trái đầu mùa của những kẻ ngủ.
21Kami rang hoiah duekhaih angzoh baktih toengah, kadueh angthawk lethaih doeh kami rang hoiah ni angzoh.
21Vả, vì chưng bởi một người mà có sự chết, thì cũng bởi một người mà có sự sống lại của những kẻ chết.
22Adam ah kami boih duek baktih toengah, Kri ah kami boih hing o toeng tih.
22Như trong A-đam mọi người đều chết, thì cũng một lẽ ấy, trong Đấng Christ mọi người đều sẽ sống lại,
23Toe Kri loe kathai tangsuek thingthai ah oh; Anih angzoh naah Kri ah kaom kaminawk loe, angmacae ih atue phak naah angthawk o let tih.
23nhưng mỗi người theo thứ tự riêng của mình: Đấng Christ là trái đầu mùa; rồi tới ngày Đấng Christ đến, những kẻ thuộc về Ngài sẽ sống lại.
24Anih mah ukhaih, sakthaihaih hoi thacakhaihnawk pazawk boih pacoengah, long boenghaih to om tih, to naah ukhaih prae to Ampa, Sithaw khaeah paek tih.
24Kế đó, cuối cùng sẽ đến, là lúc Ngài sẽ giao nước lại cho Đức Chúa Trời là Cha, sau khi Ngài đã phá diệt mọi đế quốc, mọi quyền cai trị, và mọi thế lực;
25A misanawk a khok tlim ah suem boih ai karoek to Anih mah uk tih.
25vì Ngài phải cầm quyền cho đến chừng đặt những kẻ thù nghịch dưới chơn mình. -
26Hnukkhuem koekah pazawk han ih misa loe duekhaih to ni.
26Kẻ thù bị hủy diệt sau cùng, tức là sự chết. -
27Anih mah hmuennawk to a khok tlim ah suek boih boeh. Toe hmuennawk boih Anih tlim ah suek boeh, tiah Anih mah thuih naah, hmuennawk boih Anih khok tlim ah Suemkung, Anih thuih koehhaih ih na ai ni, tito amtueng.
27Vả, Đức Chúa Trời đã để muôn vật dưới chơn Ngài; mà đã nói rằng muôn vật phục Ngài, thì chắc phải trừ ra Đấng làm cho muôn vật phục Ngài.
28Hmuennawk boih Anih tlim ah suek pacoengah, Sithaw loe tih boih boih ih Sithaw ah oh thai hanah, Capa loe hmuennawk boih Anih tlim ah Suemkung khaeah, angmah hoi angmah to ang paek tih.
28Khi muôn vật đã phục Ngài, thì bấy giờ chính mình Con sẽ phục Đấng đã làm cho muôn vật phục mình, hầu cho Đức Chúa Trời làm muôn sự trong muôn sự.
29Kadueh kami angthawk ai nahaeloe, kadueh kaminawk han tuinuem kaminawk loe kawbangmaw om o tih? Tipongah kadueh kaminawk hanah tui a nuem pae o loe?
29Bằng chẳng vậy, những người vì kẻ chết chịu phép báp tem sẽ làm chi? Nếu kẻ chết quả thật không sống lại, thì sao họ vì những kẻ ấy mà chịu phép báp tem?
30Tipongah aicae loe ni thokkruek zithaih hoiah kho a sak o loe?
30Lại sao chính mình chúng tôi giờ nào cũng ở trong sự nguy hiểm?
31Kai loe ni thokkruek ka duek, aicae Angraeng Kri Jesu ah ka tawnh ih nangcae anghoehaih rang hoiah, ka thui thaih.
31Hỡi anh em, tôi chết hằng ngày, thật cũng như anh em là sự vinh hiển cho tôi trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta.
32Kadueh kami angthawkhaih om ai nahaeloe, kaminawk ih khosakhaih baktiah, Efisa vangpui ah kasan moinawk hoi kang panhaih to tih atho maw om tih? Aicae loe khawnbangah a duek o han boeh pongah, Caak moe naek hanah ni a oh o boeh.
32Nếu tôi theo cách loài người mà đã đánh cùng các loài thú ở thành Ê-phê-sô, thì có ích gì cho tôi? Nếu kẻ chết chẳng sống lại, thì hãy ăn, hãy uống, vì ngày mai chúng ta sẽ chết!
33Minawk mah aling thaih koi kami ah om o hmah: kahoih ai kami hoi angkomhaih mah kahoih tuinuen to amrosak.
33Anh em chớ mắc lừa: bạn bè xấu làm hư thói nết tốt.
34Toenghaih bangah poek cai oh, zaehaih sah o hmah; thoemto kaminawk loe Sithaw panoekhaih tawn o ai: na zat o han ih ni hae lok hae kang thuih o.
34Hãy tỉnh biết, theo cách công bình, và chớ phạm tội; vì có người không biết Đức Chúa Trời chút nào, tôi nói vậy để anh em hổ thẹn.
35Toe kadueh kami loe kawbangmaw angthawk let tih? Kawbaktih taksa hoiah maw angthawk tih? tiah thoemto kaminawk mah dueng o tih.
35Nhưng có kẻ sẽ nói rằng: Người chết sống lại thể nào, lấy xác nào mà trở lại?
36Kamthu nang, Na patit ih aanmu loe qong ai ah amprawk thai ai:
36Hỡi kẻ dại kia, vật gì ngươi gieo, nếu không chết đi trước đã, thì không sống lại được.
37aanmu na patit naah, akung to na patii ai, cangti doeh, kalah aanmu doeh, amuu to ni na patit:
37Còn như vật ngươi gieo, ấy không phải là chính hình thể sẽ sanh ra, chẳng qua là một cái hột, như hột lúa mì hay là hột giống nào khác.
38Sithaw mah ni a koeh baktiah akung ah angcoengsak, amu boih angmacae ih amuu baktih toengah akung ah angcoengsak.
38Đức Chúa Trời cho nó hình thể tùy ý Ngài lấy làm tốt, mỗi một hột giống, cho một hình thể riêng.
39Taksa loe anghmong o boih ai: kami taksa, moi taksa, tanga taksa, tavaa taksa, tiah oh o.
39Mọi xác thịt chẳng phải là đồng một xác thịt; nhưng xác thịt loài người khác, xác thịt loài thú khác, loài chim khác, loài cá khác.
40Van taksa oh baktih toengah, long taksa doeh oh: toe van taksa lensawkhaih to lah moe, long taksa lensawkhaih doeh lah.
40Lại cũng có hình thể thuộc về trời, hình thể thuộc về đất, nhưng vinh quang của hình thể thuộc về trời với vinh quang của hình thể thuộc về đất thì khác nhau.
41Ni lensawkhaih, khrah lensawkhaih hoi cakaehnawk lensawkhaih to anghmong ai: cakaeh maeto hoi maeto lensawkhaih doeh lah boih.
41Vinh quang của mặt trời khác, vinh quang của mặt trăng khác, vinh quang của ngôi sao khác; vinh quang của ngôi sao nầy với vinh quang của ngôi sao kia cũng khác.
42Kadueh kami angthawk lethaih doeh to tiah ni oh. Qong hanah patit ih oh baktih toengah, qong ai ah angthawkhaih doeh oh:
42Sự sống lại của kẻ chết cũng như vậy. Thân thể đã gieo ra là hay hư nát, mà sống lại là không hay hư nát;
43patit naah pakoeh han om ai; angthawk naah loe lensawkhaih hoiah akoep: patit naah thazok; angthawk naah loe thacakhaih hoiah akoep:
43đã gieo ra là nhục, mà sống lại là vinh; đã gieo ra là yếu, mà sống lại là mạnh;
44patit naah long taksa ah oh; angthawk naah loe Muithla taksa ah oh. Long taksa oh baktih toengah, Muithla taksa doeh oh.
44đã gieo ra là thể huyết khí, mà sống lại là thể thiêng liêng. Nếu đã có thể huyết khí, thì cũng có thể thiêng liêng;
45Hmaloe koek kami Adam loe hinghaih tawn kami ah oh, tiah tarik ih oh; hnukkhuem koek Adam loe hinghaih paekkung Muithla ah oh.
45ấy vậy, có lời chép rằng: Người thứ nhứt là A-đam đã nên linh hồn sống. A-đam sau hết là thần ban sự sống.
46Toe Muithla taksa to om hmaloe ai, long taksa ni oh hmaloe, to pacoengah ni Muithla taksa to oh vop.
46Nhưng chẳng phải thể thiêng liêng đến trước, ấy là thể huyết khí; rồi thể thiêng liêng đến sau.
47Hmaloe koek kami loe long hoiah ni sak, to pongah long kami ah oh: hnetto haih kami loe van bang ih Angraeng ah oh.
47Người thứ nhứt bởi đất mà ra, là thuộc về đất, người thứ hai bởi trời mà ra.
48Long kaminawk loe, long kami baktiah oh o: van kaminawk loe, van kami baktiah oh o.
48Người thuộc về đất thể nào, thì những kẻ thuộc về đất cũng thể ấy; người thuộc về trời thể nào, thì những kẻ thuộc về trời cũng thể ấy.
49Aicae loe long hoi kaom krang kanghmong ah tapen baktih toengah, van hoi kaom krang hoiah doeh anghmong toeng tih.
49Như chúng ta đã mang ảnh tượng của người thuộc về đất, thì chúng ta cũng sẽ mang ảnh tượng của người thuộc về trời.
50Nawkamyanawk, taksa hoi athii mah Sithaw prae toep o thai mak ai; kaqong thaih mah kaqong thai ai to toep thai mak ai, tiah ka thuih.
50Hỡi anh em, tôi đoán quyết rằng thịt và máu chẳng hưởng nước Đức Chúa Trời được, và sự hay hư nát không hưởng sự không hay hư nát được.
51Tahngai oh, loktamqu kang thuih o han; aicae loe a iip o boih mak ai, aicae loe,
51Nầy là sự mầu nhiệm tôi tỏ cho anh em: Chúng ta không ngủ hết, nhưng hết thảy đều sẽ biến hóa,
52hnukkhuem koek mongkah to uengh naah, akra ai ah, mik pakhrip nathung amkhraih o boih tih: mongkah uengh naah kadueh kaminawk loe kaqong thai ai ah angthawk o tih, aicae loe amkhraih tih boeh.
52trong giây phút, trong nháy mắt, lúc tiếng kèn chót; vì kèn sẽ thổi, kẻ chết đều sống lại được không hay hư nát, và chúng ta đều sẽ biến hóa.
53Hae kaqong thaih hmuen hae, kaqong thai ai hmuen mah khuk ueloe, hae kadueh thaih hmuen hae, kadueh thai ai hmuen mah khuk tih.
53Vả, thể hay hư nát nầy phải mặc lấy sự không hay hư nát, và thể hay chết nầy phải mặc lấy sự không hay chết.
54Hae kaqong thaih hmuen hae, kaqong thai ai hmuen mah khuk moe, hae kadueh thaih hmuen hae, kadueh thai ai hmuen mah khuk naah loe, Pazawkhaih mah duekhaih to paaeh ving boeh, tiah tarik ih lok to akoep tih boeh.
54Khi nào thể hay hư nát nầy mặc lấy sự không hay hư nát, thể hay chết nầy mặc lấy sự không hay chết, thì được ứng nghiệm lời Kinh Thánh rằng: Sự chết đã bị nuốt mất trong sự thắng.
55Aw duekhaih, nang ih kasoe loe naah maw oh? Aw taprong na pazawkhaih loe naah maw oh?
55Hỡi sự chết, sự thắng của mầy ở đâu? Hỡi sự chết, cái nọc của mầy ở đâu?
56Zae loe duekhaih kasoe ah oh moe, kaalok loe zae thacakhaih ah oh.
56Cái nọc sự chết là tội lỗi, sức mạnh tội lỗi là luật pháp.
57Toe aicae Angraeng Jesu Kri rang hoiah pazawkhaih paekung, Sithaw khaeah pakoehaih om nasoe.
57Nhưng, tạ ơn Đức Chúa Trời đã cho chúng ta sự thắng, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta.
58To pongah, palung ih nawkamyanawk, poek amkhrai o hmah, kacakah angdoe oh. Angraeng ih tok to sah o poe ah, Angraeng toksak loe azom pui ai ni, tito panoek oh.
58Vậy, hỡi anh em yêu dấu của tôi, hãy vững vàng chớ rúng động, hãy làm công việc Chúa cách dư dật luôn, vì biết rằng công khó của anh em trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.