1 Korin 2
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Nawkamyanawk, Kahoih Sithaw tamthanglok taphong hanah nangcae khae kang zoh naah, lokthuih kophaih maw, to tih ai boeh loe palunghahaih hoiah maw kang zo ai.
1Hỡi anh em, về phần tôi, khi tôi đến cùng anh em, chẳng dùng lời cao xa hay là khôn sáng mà rao giảng cho anh em biết chứng cớ của Đức Chúa Trời.
2Jesu Kri hoi Anih takhinghaih lok khue ai ah loe, nangcae khae hoi panoek koehhaih tidoeh ka tawn ai.
2Vì tôi đã đoán định rằng ở giữa anh em, tôi chẳng biết sự gì khác ngoài Đức Chúa Jêsus Christ, và Đức Chúa Jêsus Christ bị đóng đinh trên cây thập tự.
3Thazokhaih, zithaih hoi paroeai tasoehhaih hoiah ni nangcae khaeah ka oh.
3Chính tôi đã ở giữa anh em, bộ yếu đuối, sợ hãi, run rẩy lắm.
4Lok ka thuih moe, tamthanglok ka taphong naah, kami palunghahaih hoiah zoekhaih lok to ka thui ai, toe thacak Muithla amtuenghaih hoiah ni lok to ka thuih:
4Lời nói và sự giảng của tôi chẳng phải bằng bài diễn thuyết khéo léo của sự khôn ngoan, nhưng tại sự tỏ ra Thánh Linh và quyền phép;
5na tang o haih loe kami palunghahaih nuiah amha han om ai, Sithaw thacakhaih nuiah ni amha han oh.
5hầu cho anh em chớ lập đức tin mình trên sự khôn ngoan loài người, bèn là trên quyền phép Đức Chúa Trời.
6Palunghahaih lok to tanghaih bangah akoep kaminawk khaeah a thuih o: toe tiah doeh kangcoeng ai, hae long palunghahaih lok hoi hae long ukkungnawk ih palunghahaih lok to a thui o ai:
6Dầu vậy, chúng tôi giảng sự khôn ngoan cho những kẻ trọn vẹn, song chẳng phải sự khôn ngoan thuộc về đời nầy, cũng không phải của các người cai quản đời nầy, là kẻ sẽ bị hư mất.
7toe lensawkhaih ah a oh o hanah, long om ai naah Sithaw mah paek ih panoek karai palunghahaih lok, kathuk Sithaw palunghahaih lok to ni a thuih o:
7Chúng tôi giảng sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời, là sự mầu nhiệm kín giấu, mà từ trước các đời, Đức Chúa Trời đã định sẵn cho sự vinh hiển chúng ta.
8to kathuk palunghahaih loe hae long nui ukkungnawk mah panoek o ai: nihcae mah panoek o nahaeloe, lensawkhaih Angraeng to takhing o mak ai.
8Trong những người cai quản đời nầy chẳng ai từng biết sự đó; bởi chưng, nếu đã biết thì họ chẳng đóng đinh Chúa vinh hiển trên cây thập tự đâu.
9Sithaw mah a palung ih kaminawk hanah sak pae ih hmuennawk loe, mik hoiah hnu ai, naa hoiah thai ai, kami ih palung thungah doeh akun ai, tiah tarik ih oh.
9Song le, như có chép rằng: Aáy là sự mắt chưa thấy, tai chưa nghe, Và lòng người chưa nghĩ đến, Nhưng Đức Chúa Trời đã sắm sẵn điều ấy cho những người yêu mến Ngài.
10Toe Sithaw mah to hmuennawk to Angmah ih Muithla rang hoiah aicae khaeah amtuengsak boeh: Muithla loe hmuennawk boih to pakrong, ue, kathuk Sithaw ih hmuennawk doeh pakrong.
10Đức Chúa Trời đã dùng Đức Thánh Linh để bày tỏ những sự đó cho chúng ta, vì Đức Thánh Linh dò xét mọi sự, cả đến sự sâu nhiệm của Đức Chúa Trời nữa.
11Kami takoh thungah kaom hmuennawk loe angmah ih palung thungah kaom palung khue mah ai ah loe mi mah maw panoek thai tih? To baktih toengah Sithaw ih hmuennawk doeh Sithaw ih Muithla mah ai ah loe mi mah doeh panoek thai ai.
11Vả, nếu không phải là thần linh trong lòng người, thì ai biết sự trong lòng người? Cũng một lẽ ấy, nếu không phải là Thánh Linh của Đức Chúa Trời, thì chẳng ai biết sự trong Đức Chúa Trời.
12Sithaw mah aicae khaeah azom ah paek ih hmuennawk to a panoek o thai hanah, long muithla na ai ah, Sithaw ih Muithla to vaihi azom ah a hnuk o boeh.
12Về phần chúng ta, chúng ta chẳng nhận lấy thần thế gian, nhưng đã nhận lấy Thánh Linh từ Đức Chúa Trời đến, hầu được hiểu biết những ơn mà chúng ta nhận lãnh bởi Đức Chúa Trời;
13A thuih o ih hmuennawk doeh, kami palunghahaih mah patuk ih loknawk hoiah a thui o ai, Kacai Muithla mah patuk ih lok baktiah ni a thuih o; Muithla ih hmuennawk to Muithla lok hoiah a thuih o.
13chúng ta nói về ơn đó, không cậy lời nói mà sự khôn ngoan của loài người đã dạy đâu, song cậy sự khôn ngoan mà Đức Thánh Linh đã dạy, dùng tiếng thiêng liêng để giải bày sự thiêng liêng.
14Toe taksa ah kaom kami mah loe Sithaw Muithla ih hmuennawk to talawk thai ai: to hmuennawk loe anih han amthuhaih ah ni oh: Muithla bang panoek thaihaih hmuennawk ah oh pongah, anih mah panoek thai ai.
14Vả, người có tánh xác thịt không nhận được những sự thuộc về Thánh Linh của Đức Chúa Trời; bởi chưng người đó coi sự ấy như là sự dồ dại, và không có thể hiểu được, vì phải xem xét cách thiêng liêng.
15Toe Muithla kami loe to hmuennawk boih pathlaeng moe panoek thaih, toe anih loe mi mah doeh panoek thai ai.
15Nhưng người có tánh thiêng liêng xử đoán mọi sự, và chính mình không bị ai xử đoán.
16Anih patuk thai hanah, Angraeng poekhaih panoek thaih mi maw kaom? Toe aicae loe Kri poekhaih to a tawnh o.
16Vì ai đã biết ý Chúa, đặng dạy dỗ Ngài? Nhưng phần chúng ta, thì có ý của Đấng Christ.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.