II Sam
Chapter 22
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Khi Đức Giê-hô-va đã giải cứu Đa-vít khỏi tay các thù nghịch và khỏi tay Sau-lơ, thì người hát các lời nầy mà ngợi khen Đức Giê-hô-va,
1Angraeng mah David to angmah ih misanawk hoi Saul ih ban thung hoiah loisak naah, hae tiah laa loknawk to a thuih,
2rằng: Đức Giê-hô-va là hòn đá và đồn lũy tôi, Đấng giải cứu tôi.
2anih mah, Angraeng loe ka lungsong, kang hawkhaih hoi kai pahlongkung ah oh;
3Đức Chúa Trời tôi là hòn đá tôi, nơi tôi sẽ nương náu mình, Là thuẫn đỡ tôi, sừng chửng cứu tôi, Ngọn tháp cao và nơi nương dựa của tôi; Hỡi Đấng che chở tôi! ấy Ngài giải cứu tôi khỏi sự hung bạo.
3Sithaw loe ka lungsong ah oh moe, kang hawkhaih ah oh; anih loe ka phaw hoi pahlonghaih takii ah oh. Kai ih sipae, kang hawkhaih hoi pahlongkung ah oh moe, athii palong koeh kasae kaminawk ban thung hoiah nang pahlong.
4Tôi sẽ kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va, là Đấng đáng khen ngợi; Thì tôi sẽ được giải cứu khỏi các thù nghịch tôi.
4Pakoeh han kamcuk, Angraeng to ka kawk naah, ka misanawk salak hoiah pahlong ah ka oh.
5Các lượng sóng của tử vong đã phủ bao tôi, Lụt gian ác chảy cuộn làm cho tôi sợ hãi;
5Duekhaih tuiphu mah ang takui naah, amrohaih kalen tui mah ang khuk moe, ang pazih.
6Những dây của địa ngục đã vấn tôi, Lưới sự chết có hãm bắt tôi.
6Hell qui mah angzaeng caeng moe, duekhaih thaang mah ang pakaa khoep.
7Trong cơn hoạn nạn tôi cầu khẩn Đức Giê-hô-va, Tôi kêu la cùng Đức Chúa Trời tôi. ỳ nơi đền Ngài nghe tiếng tôi, Tiếng kêu cầu của tôi thấu đến tai Ngài.
7Palungboeng naah Angraeng to ka kawk; ka Sithaw to ka kawk; anih mah angmah ih tempul imthung hoiah ka lok to ang tahgaih pae, ka qahhaih lok anih ih naa thungah akun.
8Bấy giờ, đất động và rung, Nền các từng trời cũng lay chuyển, Nó rúng động, vì Ngài nổi giận.
8Anih palungphui pongah, long loe tasoeh takuenhaih hoiah oh; van ohhaih ahmuennawk doeh anghuen moe, angthuih o.
9Khói bay ra từ lỗ mũi Ngài, Và từ miệng Ngài phát ra ngọn lửa hực. Ngài khiến than hừng đỏ phun ra,
9Anih ih hnahkhaw thung hoiah hmaikhue to tacawt moe, anih ih pakha hoiah hmaipalai to tacawt pongah, hmaisaae to amngaeh.
10Làm nghiêng lệch các từng trời, và ngự xuống, Dưới chân Ngài có vùng đen kịt.
10Vannawk to takoih moe, angzoh tathuk; a khok tlim ah vinghaih to oh.
11Ngài cỡi một chê-ru-bin và bay; Ngài hiện ra trên cánh của gió.
11Cehrubim pongah angthueng moe, azawk; anih loe takhi pakhraeh nuiah amtueng.
12Ngài bủa sự tối tăm, những vùng nước, những mây đen mịt, Chung quanh mình như một cái trại.
12Anih taengah vinghaih to suek moe, tui kaving, van ih kathah tamai hoiah a khuk.
13Từ sự rực rỡ ở trước mặt Ngài, Những than hực chiếu sáng ra.
13Anih hmaa ah kaom aanghaih mah, hmaisaae to amngaehsak.
14Đức Giê-hô-va sấm sét trên các từng trời, Đấng Chí cao làm cho tiếng Ngài vang rân.
14Angraeng mah van ah khopazihsak moe, ranui koek ah lok to amsongsak.
15Ngài bắn tên, làm cho quân thù tôi tản lạc, Phát chớp nhoáng, khiến chúng nó lạc đường.
15Kaliinawk to kah moe, tangphra to pueksak pongah, a misanawk to anghaehsak phaeng.
16Bởi lời hăm he của Đức Giê-hô-va, Bởi gió xịt ra khỏi lỗ mũi Ngài, Đáy biển bèn lộ ra, Nền thế gian bị bày tỏ.
16Sithaw mah thuitaek pongah, a hnah thung ih takhi hoiah tuipui longhaih ahmuen hoiah long ohhaih ahmuen to amtuengsak.
17Từ trên cao, Ngài giơ tay nắm tôi, Rút tôi ra khỏi nước sâu.
17Ranui bang hoiah ban to payangh moe, kathuk tui thung hoiah kai ang talawk.
18Ngài giải cứu tôi khỏi kẻ thù nghịch cường bạo, Khỏi kẻ ghét tôi, vì chúng nó mạnh hơn tôi.
18Kai hnuma moe, kai hanah thacak parai misanawk ih ban thung hoiah kai ang pahlong.
19Trong ngày hoạn nạn chúng nó đến xông vào tôi; Nhưng Đức Giê-hô-va nâng đỡ tôi.
19Raihaih ka tongh na niah nihcae mah ang pakaa; toe Angraeng loe kam haahaih ah oh.
20Ngài đem tôi ra nơi rộng rãi, Giải cứu tôi, vì Ngài ưa thích tôi.
20Kai to kalen parai ahmuen ah ang suek; kai palung pongah, ang pahlong.
21Đức Giê-hô-va đã thưởng tôi tùy sự công bình tôi, Báo tôi theo sự thanh sạch của tay tôi.
21Ka toenghaih baktih toengah, Angraeng mah tangqum ang paek; ka ban ciimhaih baktih toengah, kai hanah tangqum ang paek.
22Vì tôi có giữ theo các đường lối của Đức Giê-hô-va, Không làm ác xây bỏ Đức Chúa Trời tôi.
22Angraeng ih loklam to ka pazui; kahoih ai hmuen sak hanah, ka Sithaw to kang qoi taak ai.
23Vì các mạng lịnh của Ngài đều ở trước mặt tôi, Tôi chẳng lìa xa các luật lệ Ngài.
23A thuitaekhaih loknawk loe ka hmaa ah oh, a paek ih loknawk to kang qoi taak ai.
24Tôi cũng ở trọn vẹn với Ngài, Và giữ lấy mình khỏi gian ác.
24A hmaa ah toenghaih hoiah ka oh moe, zaehaih to ka yae.
25Vì vậy, Đức Giê-hô-va đã báo tôi tùy sự công bình tôi, Thưởng tôi theo sự tinh sạch tôi trước mặt Ngài.
25To pongah Angraeng mah ka toenghaih hoi a mikhnukah ka ciimcaihaih baktih toengah, tangqum to ang paek boeh.
26Kẻ hay thương xót, Chúa sẽ thương xót lại; Đối cùng kẻ trọn vẹn, Chúa sẽ tỏ mình trọn vẹn lại.
26Tahmenhaih tawn kami khaeah tahmenhaih, katoeng kami khaeah na toenghaih to nam tuengsak.
27Đối cùng kẻ tinh sạch, Chúa sẽ tỏ mình tinh sạch lại; Còn đối cùng kẻ trái nghịch, Chúa sẽ tỏ mình nhặt nhiệm lại.
27Ciimcai kaminawk khaeah ciimcaihaih, lokaek thaih kaminawk khaeah sethaih to nam tuengsak.
28Vì Chúa cứu dân bị khốn khổ; Nhưng mắt Chúa coi chừng kẻ kiêu căng đặng làm chúng nó bị hạ xuống.
28Patangkhang kaminawk to na pahlong; toe amoek kaminawk loe atlim ah na pakhrak tathuk.
29Đức Giê-hô-va ôi! thật Ngài là ngọn đèn tôi, Và Đức Giê-hô-va sẽ chiếu sáng sự tối tăm tôi.
29Nang loe kai ih hmaithaw ah na oh; Aw Angraeng; Angraeng mah kai khovinghaih to khodai ah angcoengsak.
30Nhờ Ngài tôi sẽ xông ngang qua đạo binh, Cậy Đức Chúa Trời tôi, tôi vượt khỏi tường thành.
30Nang oephaih rang hoiah misatuh kaminawk to ka patoeh moe, ka Sithaw rang hoiah sipae to ka poeng thaih.
31Còn Đức Chúa Trời, các đường của Ngài vốn là trọn vẹn, Lời của Đức Giê-hô-va là tinh tường. Ngài là cái thuẫn cho mọi người nương náu mình nơi Ngài.
31Sithaw ih loklam loe akoep; Angraeng ih lok loe coek koi om ai; a nuiah amha kaminawk hanah anih loe aphaw ah oh.
32Vậy, trừ ra Đức Giê-hô-va ai là Đức Chúa Trời? Ai là hòn đá lớn, nếu không phải là Đức Chúa Trời chúng ta?
32Angraeng pacoengah, mi maw Sithaw ah kaom vop?
33Đức Chúa Trời là đồn lũy vững chắc của tôi, Ngài dắt người trọn vẹn vào đường chánh đáng.
33Sithaw loe ka thacakhaih hoi tharahhaih ah oh; anih mah ka loklam to akoepsak.
34Ngài làm cho chân tôi lẹ như chân nai cái, Và để tôi đứng trên các nơi cao của tôi.
34Ka khok hae tasuk khok baktiah ang sak pae moe, hmuensang ah ang suek.
35Ngài tập tay tôi chiến trận, Đến đỗi cánh tay tôi giương nổi cung đồng.
35Misatuk thaih hanah ka ban hae patuk pongah, ka ban mah sum kalii to khaeh thaih.
36Chúa đã ban sự chửng cứu cho tôi làm cái khiên, Và sự hiền từ Chúa đã làm cho tôi nên sang trọng.
36Pazawkhaih aphaw to nang paek moe, poeknaemhaih hoiah nang lensak.
37Chúa mở rộng đường dưới bước tôi, Và chân tôi không xiêu tó.
37Ka hmaa ih loklam to na kawksak pongah, ka khok hae amkhraeng ai.
38Tôi đuổi theo kẻ thù nghịch tôi, và hủy diệt nó, Chỉ trở về sau khi đã tận diệt chúng nó.
38Ka misanawk to patom moe, ka hum; nihcae ka paro ai karoek to kam laem let ai.
39Tôi trừ tiệt, đâm lủng chúng nó, không thể dậy lại được; Chúng nó sa ngã dưới chân tôi.
39Nihcae loe ahmaa caak o moe, ka tamit boih; angthawk o thai ai boeh; ue, ka khok tlim ah amtim o boih.
40Vì Chúa đã thắt lưng tôi bằng sức mạnh để chiến trận, Và khiến kẻ dấy nghịch cùng tôi xếp rệp dưới tôi.
40Misatuk hanah thacakhaih hoiah nang zaeng moe, kai tuk hanah misa angthawk kaminawk to ka khokkung ah na kuepsak.
41Chúa cũng khiến kẻ thù nghịch xây lưng cùng tôi, Hầu cho tôi diệt những kẻ ghét tôi.
41Kai hnuma kaminawk ka hum thai hanah, nihcae ih tahnong to kai han nang paek.
42Chúng nó trông ngóng, nhưng chẳng ai cứu cho; Chúng nó kêu cùng Đức Giê-hô-va, song Ngài không đáp lại.
42Nihcae loe khet o, toe pahlongkung maeto doeh om ai; Angraeng khaeah a hang o; toe anih mah pathim pae ai.
43Bấy giờ tôi đập giập chúng nó khác nào bụi dưới đất; Chà nát, giày đạp chúng nó giống như bùn ngoài đường.
43Nihcae to long ih maiphu baktiah ka boh; loklam ih tangkrok baktiah ka cawh moe, ka haeh phaeng.
44Chúa đã giải cứu tôi khỏi sự tranh giành của dân sự tôi, Gìn giữ tôi để làm đầu các nước; Một dân tộc tôi không quen biết sẽ phục sự tôi.
44Kai ih kami tuh kaminawk ih ban thung hoiah nang pahlong moe, Sithaw panoek ai kaminawk ih lu ah nang ohsak; ka panoek vai ai ih kaminawk mah ka tok ang sak pae o.
45Các người ngoại quốc sẽ phục dưới tôi; Vừa nghe nói về tôi, chúng nó đều vâng theo tôi.
45Prae kalah kaminawk loe kai khaeah akun o, ka lok thaih o naah, ka lok to tahngaih o.
46Các người ngoại quốc sẽ tàn mọt, Đi ra khỏi chỗ ẩn mình cách run sợ.
46Prae kalah kaminawk loe thazok o sut pongah, tasoeh takuenhaih hoiah oh o moe, angmacae ohhaih ahmuen hoiah tacawt o.
47Đức Giê-hô-va hằng sống; đáng ngợi khen hòn đá lớn tôi! Nguyện Đức Chúa Trời, là hòn đá của sự chửng cứu tôi, được tôn cao!
47Angraeng loe hing; ka lungsong loe tahamhoihaih om nasoe! Sithaw, ka pahlonghaih lungsong loe, pakoehhaih om nasoe.
48Tức là Đức Chúa Trời báo thù cho tôi, Khiến các dân tộc qui phục tôi.
48Anih loe kai taham lu lakung Sithaw ah oh moe, kaminawk to ka khok tlim ah a suek.
49Ngài giải cứu tôi khỏi kẻ thù nghịch; Thật Chúa nâng tôi lên cao hơn kẻ dấy nghịch cùng tôi, Và cứu tôi khỏi người hung bạo.
49Anih mah ka misanawk khae hoiah ang loisak; ka misanawk nuiah nang thuengh tahang moe, hmawhsaeng kaminawk ban thung hoiah nang pahlong.
50Vì vậy, Đức Giê-hô-va ôi! Tôi sẽ khen ngợi Ngài tại giữa các dân, Và ca tụng danh của Ngài.
50To pongah Aw Angraeng, Sithaw panoek ai kaminawk salakah, nang khaeah anghoehaih lok to ka thuih, na hmin pakoehhaih laa to ka sak han.
51Đức Giê-hô-va ban cho vua của Ngài sự giải cứu lớn lao, Và làm ơn cho đấng chịu xức dầu của Ngài, Tức là cho Đa-vít và cho dòng dõi người, đến đời đời.
51Anih loe angmah ih siangpahrang hanah pahlonghaih imsang ah oh; situi hoi bawh ih David hoi anih ih caanawk khaeah, tahmenhaih dungzan khoek to amtuengsak, tiah laa a sak.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.