II Sam 22
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Khi Đức Giê-hô-va đã giải cứu Đa-vít khỏi tay các thù nghịch và khỏi tay Sau-lơ, thì người hát các lời nầy mà ngợi khen Đức Giê-hô-va,
1OLELO aku la o Davida ia Iehova i na huaolelo o keia mele, i ka la a Iehova i hoopakele ae ia ia mai ka lima aku o kona poe enemi a pau, a mai ka lima aku hoi o Saula.
2rằng: Đức Giê-hô-va là hòn đá và đồn lũy tôi, Đấng giải cứu tôi.
2I aku la ia, O Iehova no kuu pohaku, kuu pakaua, a me kuu hoola;
3Đức Chúa Trời tôi là hòn đá tôi, nơi tôi sẽ nương náu mình, Là thuẫn đỡ tôi, sừng chửng cứu tôi, Ngọn tháp cao và nơi nương dựa của tôi; Hỡi Đấng che chở tôi! ấy Ngài giải cứu tôi khỏi sự hung bạo.
3O ke Akua o ko'u pohaku, e paulele aku au maluna ona; Oia ko'u palekaua, a me ka pepeiaohao o ko'u ola; Oia ko'u halekiai kiekie, o kuu puuhonua, a me kuu hoola; Ke hoola mai nei oe ia'u, i ke koloheia.
4Tôi sẽ kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va, là Đấng đáng khen ngợi; Thì tôi sẽ được giải cứu khỏi các thù nghịch tôi.
4E hea aku no wau ia Iehova, ka mea pono ke hoonaniia'ku: Pela no wau e hoopakeleia mai ai i ko'u poe enemi.
5Các lượng sóng của tử vong đã phủ bao tôi, Lụt gian ác chảy cuộn làm cho tôi sợ hãi;
5Hoopuni mai la na ale o ka make ia'u, Hooweliweli mai la ka waikahe o ka poe aia ia'u;
6Những dây của địa ngục đã vấn tôi, Lưới sự chết có hãm bắt tôi.
6Ua puni au i ko ka po mea e paa ai, A hoohei mai la ia'u na upena o ka make.
7Trong cơn hoạn nạn tôi cầu khẩn Đức Giê-hô-va, Tôi kêu la cùng Đức Chúa Trời tôi. ỳ nơi đền Ngài nghe tiếng tôi, Tiếng kêu cầu của tôi thấu đến tai Ngài.
7I ko'u popilikia, kahea aku la au ia Iehova. Uwe aku la hoi au i ko'u Akua; A lohe mai la kela i ko'u leo mai kona luakini mai, A komo aku la hoi ko'u kahea ana iloko o kona mau pepeiao.
8Bấy giờ, đất động và rung, Nền các từng trời cũng lay chuyển, Nó rúng động, vì Ngài nổi giận.
8Alaila nauwe iho la ka honua me ka haalulu; Nee aku la na kumu o na lani, A nauwewe ae la hoi no kona inaina.
9Khói bay ra từ lỗ mũi Ngài, Và từ miệng Ngài phát ra ngọn lửa hực. Ngài khiến than hừng đỏ phun ra,
9Pukoa ae la ka uahi mailoko ae o kona mau pukaihu, Mai loko aku o kona waha i ai aku ai ke ahi: Ua kukuniia na lanahu e ia.
10Làm nghiêng lệch các từng trời, và ngự xuống, Dưới chân Ngài có vùng đen kịt.
10Hoohaahaa iho la oia i na lani, a iho mai la, Malalo ae o kona mau wawae ka pouli.
11Ngài cỡi một chê-ru-bin và bay; Ngài hiện ra trên cánh của gió.
11Holo ae la kela maluna o kekahi keruba, a lele ae la no hoi ia; Ua ikea no hoi oia maluna o na eheu o ka makani.
12Ngài bủa sự tối tăm, những vùng nước, những mây đen mịt, Chung quanh mình như một cái trại.
12O ka pouli i puni mai ia ia, oia kana i hoolilo ai i wahi noho nona, O na wai akoakoa i na ao eleele o ka lani.
13Từ sự rực rỡ ở trước mặt Ngài, Những than hực chiếu sáng ra.
13Noloko o ka olinolino imua ona, ua kuniia na lanahu ahi.
14Đức Giê-hô-va sấm sét trên các từng trời, Đấng Chí cao làm cho tiếng Ngài vang rân.
14Hoohekili mai la o Iehova mai ka lani mai, A hoopoha mai la hoi ka Mea kiekie loa i kona leo.
15Ngài bắn tên, làm cho quân thù tôi tản lạc, Phát chớp nhoáng, khiến chúng nó lạc đường.
15Pana mai la ia i na pua, a hoopuehu ia lakou, I na uila hoi a hooauhee aku la ia lakou.
16Bởi lời hăm he của Đức Giê-hô-va, Bởi gió xịt ra khỏi lỗ mũi Ngài, Đáy biển bèn lộ ra, Nền thế gian bị bày tỏ.
16Alaila ua ikea na kaha o ke kai, Ua hoikeia mai no hoi na kumu o ka honua, I ka papa ana mai o Iehova, I ka nou ana mai o ka hanu o kona mau puka ihu.
17Từ trên cao, Ngài giơ tay nắm tôi, Rút tôi ra khỏi nước sâu.
17Kii mai la oia mai luna mai, lalau mai la ia'u; Unuhi ae la hoi ia'u mailoko mai o na wai nui:
18Ngài giải cứu tôi khỏi kẻ thù nghịch cường bạo, Khỏi kẻ ghét tôi, vì chúng nó mạnh hơn tôi.
18Hoopakele ae hoi oia ia'u i ko'u enemi ikaika, A me ka poe i inaina mai ia'u: No ka mea, ua oi aku ko lakou ikaika i ko'u.
19Trong ngày hoạn nạn chúng nó đến xông vào tôi; Nhưng Đức Giê-hô-va nâng đỡ tôi.
19Haule mai la lakou maluna o'u i ko'u la popilikia, Aka, ua kokua mai o Iehova ia'u.
20Ngài đem tôi ra nơi rộng rãi, Giải cứu tôi, vì Ngài ưa thích tôi.
20Lawe ae la hoi oia ia'u i kahi akea; Hoopakele ae la ia ia'u, no kona makemake mai ia'u.
21Đức Giê-hô-va đã thưởng tôi tùy sự công bình tôi, Báo tôi theo sự thanh sạch của tay tôi.
21Uku mai la o Iehova ia'u e like me ko'u pono: Ua hoihoi mai oia ia'u e like me ka maemae o ko'u mau lima.
22Vì tôi có giữ theo các đường lối của Đức Giê-hô-va, Không làm ác xây bỏ Đức Chúa Trời tôi.
22No ka mea, ua malama aku au i na aoao o Iehova, Aole hoi au i hele hewa aku mai ko'u Akua aku.
23Vì các mạng lịnh của Ngài đều ở trước mặt tôi, Tôi chẳng lìa xa các luật lệ Ngài.
23Mamua hoi o'u kana mau olelo hoopono a pau; Aole hoi au i haalele aku i kana mau kauoha.
24Tôi cũng ở trọn vẹn với Ngài, Và giữ lấy mình khỏi gian ác.
24Ua kupono hoi au imua ona, A ua malama au ia'u iho i kuu hewa.
25Vì vậy, Đức Giê-hô-va đã báo tôi tùy sự công bình tôi, Thưởng tôi theo sự tinh sạch tôi trước mặt Ngài.
25Nolaila i uku mai ai o Iehova ia'u e like me ko'u pono; E like me ko'u maemae ana imua o kona mau maka.
26Kẻ hay thương xót, Chúa sẽ thương xót lại; Đối cùng kẻ trọn vẹn, Chúa sẽ tỏ mình trọn vẹn lại.
26I ka mea lokomaikai e hoike mai no oe ia oe iho he lokomaikai; I ke kanaka hoopono e hoike mai no oe ia oe iho he pono.
27Đối cùng kẻ tinh sạch, Chúa sẽ tỏ mình tinh sạch lại; Còn đối cùng kẻ trái nghịch, Chúa sẽ tỏ mình nhặt nhiệm lại.
27I ka mea maemae e hoike mai no oe ia oe iho he maemae; A i ka mea hookekee e hoike mai no oe ia oe iho he oluolu ole.
28Vì Chúa cứu dân bị khốn khổ; Nhưng mắt Chúa coi chừng kẻ kiêu căng đặng làm chúng nó bị hạ xuống.
28E hoola auanei oe i ka poe i hooluhiia; Aka, ke nana mai nei kou mau maka i ka poe hookiekie, e hoohaahaa iho ai.
29Đức Giê-hô-va ôi! thật Ngài là ngọn đèn tôi, Và Đức Giê-hô-va sẽ chiếu sáng sự tối tăm tôi.
29No ka mea, o oe no ko'u kukui, e Iehova: A e hoomalamalama mai no o Iehova i ko'u pouli.
30Nhờ Ngài tôi sẽ xông ngang qua đạo binh, Cậy Đức Chúa Trời tôi, tôi vượt khỏi tường thành.
30Ma ou la wau i wahi ae i ka poe kaua; Ma ko'u Akua wau i lehai aku ai maluna o ka pa pohaku.
31Còn Đức Chúa Trời, các đường của Ngài vốn là trọn vẹn, Lời của Đức Giê-hô-va là tinh tường. Ngài là cái thuẫn cho mọi người nương náu mình nơi Ngài.
31A o ke Akua, ua hemolele kona aoao; Ua maemae ka olelo a Iehova; He palekaua ia no ka poe a pau e paulele maluna ona.
32Vậy, trừ ra Đức Giê-hô-va ai là Đức Chúa Trời? Ai là hòn đá lớn, nếu không phải là Đức Chúa Trời chúng ta?
32Owai la ke Akua ke ole o Iehova? Owai hoi ka pohaku ke ole ko kakou Akua?
33Đức Chúa Trời là đồn lũy vững chắc của tôi, Ngài dắt người trọn vẹn vào đường chánh đáng.
33O ke Akua no ko'u ikaika a me ko'u mana; Ke hoopololei nei oia i ko'u alanui.
34Ngài làm cho chân tôi lẹ như chân nai cái, Và để tôi đứng trên các nơi cao của tôi.
34Ke hoomama nei oia i ko'u mau wawae e like me na wawae dia; Me ka hoonoho ia'u ma ko'u mau wahi kiekie.
35Ngài tập tay tôi chiến trận, Đến đỗi cánh tay tôi giương nổi cung đồng.
35Ke ao mai nei oia i kuu mau lima e kaua; I uhaiia'i e ko'u lima ke kakaka keleawe.
36Chúa đã ban sự chửng cứu cho tôi làm cái khiên, Và sự hiền từ Chúa đã làm cho tôi nên sang trọng.
36Ua haawi mai hoi oe i kou paku e ola'i; A o kou ahonui ka i hoonui mai ia'u.
37Chúa mở rộng đường dưới bước tôi, Và chân tôi không xiêu tó.
37Ua hooakea oe i ko'u mau kapuwai malalo iho o'u: Aole hoi i pahee ko'u mau wawae.
38Tôi đuổi theo kẻ thù nghịch tôi, và hủy diệt nó, Chỉ trở về sau khi đã tận diệt chúng nó.
38Ua alualu aku au i ko'u poe enemi, A ua luku aku au ia lakou; Aole au i hoi mai a pau e lakou ia'u i ka make.
39Tôi trừ tiệt, đâm lủng chúng nó, không thể dậy lại được; Chúng nó sa ngã dưới chân tôi.
39Hoopau aku la au ia lakou, me ka pepehi iho; Aole i hiki ia lakou ke ku ae: Aia, ua hina lakou malalo iho o ko'u mau wawae.
40Vì Chúa đã thắt lưng tôi bằng sức mạnh để chiến trận, Và khiến kẻ dấy nghịch cùng tôi xếp rệp dưới tôi.
40Ua kakoo mai oe ia'u i ka ikaika e kaua ai; Ua hookulou iho oe malalo o'u i ka poe i ku e mai ia'u.
41Chúa cũng khiến kẻ thù nghịch xây lưng cùng tôi, Hầu cho tôi diệt những kẻ ghét tôi.
41Ua haawi mai oe ia'u i na a-i o ko'u poe enemi, I luku aku ai au i ka poe inaina mai ia'u.
42Chúng nó trông ngóng, nhưng chẳng ai cứu cho; Chúng nó kêu cùng Đức Giê-hô-va, song Ngài không đáp lại.
42Leha ae lakou, aohe hoi mea e ola'i; Ia Iehova hoi, aole nae ia i hoolohe mai.
43Bấy giờ tôi đập giập chúng nó khác nào bụi dưới đất; Chà nát, giày đạp chúng nó giống như bùn ngoài đường.
43Alaila pakuikui aku au ia lakou a okaoka me he lepo la o ka honua. A hehi iho la au ia lakou a like me ka nenelu o ke alanui; A hoopepe iho la au ia lakou.
44Chúa đã giải cứu tôi khỏi sự tranh giành của dân sự tôi, Gìn giữ tôi để làm đầu các nước; Một dân tộc tôi không quen biết sẽ phục sự tôi.
44Ua hoopakele mai hoi oe ia'u i ka paio ana o ko'u poe kanaka, Ua malama mai oe ia'u i poo no na kanaka e: E hookauwa mai na'u ka lahuikanaka a'u i ike ole ai.
45Các người ngoại quốc sẽ phục dưới tôi; Vừa nghe nói về tôi, chúng nó đều vâng theo tôi.
45E hoolohe mai no auanei ia'u na kanaka e, I ka lohe o ka pepeiao, e malama koke mai no lakou ia'u.
46Các người ngoại quốc sẽ tàn mọt, Đi ra khỏi chỗ ẩn mình cách run sợ.
46E mae aku no na kanaka e, E makau hoi lakou ma ko lakou wahi paa.
47Đức Giê-hô-va hằng sống; đáng ngợi khen hòn đá lớn tôi! Nguyện Đức Chúa Trời, là hòn đá của sự chửng cứu tôi, được tôn cao!
47Ke ola nei o Iehova, e hoomaikaiia ko'u pohaku; E hapaiia'ku hoi ke Akua o kuu pohaku e ola'i.
48Tức là Đức Chúa Trời báo thù cho tôi, Khiến các dân tộc qui phục tôi.
48O ke Akua ke hoopai aku no'u, Me ka hoolilo i na kanaka malalo iho o'u.
49Ngài giải cứu tôi khỏi kẻ thù nghịch; Thật Chúa nâng tôi lên cao hơn kẻ dấy nghịch cùng tôi, Và cứu tôi khỏi người hung bạo.
49Oia ke hoopakele ia'u i ko'u poe enemi: Oia hoi ka i hookiekie ae ia'u maluna o ka poe i ku e mai ia'u; Ua hoola mai oe ia'u i ke kanaka hoino.
50Vì vậy, Đức Giê-hô-va ôi! Tôi sẽ khen ngợi Ngài tại giữa các dân, Và ca tụng danh của Ngài.
50Nolaila au e hoalohaloha aku ai ia oe, e Iehova, mawaena o na kanaka e. E mele hoomaikai aku au i kou inoa.
51Đức Giê-hô-va ban cho vua của Ngài sự giải cứu lớn lao, Và làm ơn cho đấng chịu xức dầu của Ngài, Tức là cho Đa-vít và cho dòng dõi người, đến đời đời.
51Oia ka halekiai no kana alii: Ua aloha mai ia i kana mea poni, Ia Davida me kana poe mamo, a mau loa aku.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.