II Sam
Chapter 12
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Baibala Hemolele (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Đức Giê-hô-va sai Na-than đến cùng Đa-vít. Vậy, Na-than đến cùng người mà rằng: Trong một thành kia có hai người, người nầy giàu, còn người kia nghèo.
1HOOUNA mai la o Iehova ia Natana io Davida la: hele mai la ia io na la, i mai la ia ia, Elua mau kanaka ma kekahi kulanakauhale; ua waiwai kekahi, a ua ilihune kekahi.
2Người giàu có chiên bò rất nhiều;
2He nui loa hoi na ohana hipa a me na ohana bipi a ke kanaka waiwai:
3nhưng người nghèo, nếu chẳng kể một con chiên cái nhỏ mà người đã mua, thì chẳng có gì hết. Người nuôi nó; nó cùng lớn lên với con cái người tại nhà người, ăn đồ người ăn, uống đồ người uống, và ngủ trên lòng người; nó như một con gái của người vậy.
3Aka, na ke kanaka ilihune, hookahi wale no keikihipa wahine uuku ana i kuai ai a hanai iho ai: noho pu iho la ia me ia a me na keiki ana; ai iho la ia i kana ai, a inu hoi ma kona kiaha, a moe iho la ia ma kona poli, a me he kaikamahine la ia nana.
4Vả, có người khách đến người giàu; người giàu tiếc không muốn đụng đến chiên bò của mình đặng dọn một bữa ăn cho người khách đã đến, bèn bắt con chiên con của người nghèo và dọn cho kẻ khách đã đến thăm mình.
4A hele mai la he kanaka hele i ua kanaka waiwai la, a aua iho la ia ke lawe i ko kana ohana hipa a me kana ohana bipi e kalua na ua kanaka la i hele mai io na la; aka, kii aku la ia i ke keikihipa a ke kanaka ilihune, a kalua iho la na ke kanaka i hele mai io na la.
5Đa-vít bèn nổi giận lắm cùng người ấy, và nói cùng Na-than rằng: Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề, người đã phạm điều ấy thật đđng chết!
5Huhu loa aku la o Davida i ua kanaka la; i aku la oia ia Natana, Ma ke ola ana o Iehova, he oiaio no e make ke kanaka nana i hana ia mea.
6Hắn phải thường bốn lần giá chiên conkhông có lòng thương xót.
6A e hoihoi pa-ha aku ia i ke keikihipa, no ka hana ana ia mea, a no ka mea, aohe ona aloha.
7Bấy giờ, Na-than nói cùng Đa-vít rằng: Vua là người đó! Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên có phán như vầy: Ta đã xức dầu lập ngươi làm vua Y-sơ-ra-ên, ta đã giải cứu ngươi khỏi tay Sau-lơ.
7I aku la o Natana ia Davida, O oe no ia kanaka: Penei ka Iehova ke Akua no ka Iseraela i olelo mai ai, Ua poni aku no au ia oe i alii raaluna o ka Iseraela, a ua hoopakele hoi au ia oe i ka lima o Saula:
8Ta cũng ban cho ngươi nhà của chủ ngươi, trao vào tay ngươi các vợ của chủ ngươi, lập ngươi làm vua của nhà Y-sơ-ra-ên và Giu-đa, và nếu điều đó không đủ, ắt ta sẽ thêm cho ơn khác nữa.
8A haawi aku la au i ka hale o kou haku nou, a me na wahine a kou haku iloko o kou poli, a haawi aku la hoi au i ka ohana o ka Iseraela a me ka Iuda nou: a ina he uuku keia mau mea, alaila e haawi aku hoi au nau, i kela mau mea, a i keia mau mea.
9Cớ sau ngươi đã khinh bỉ lời của Đức Giê-hô-va, mà làm điều không đẹp lòng Ngài? Ngươi đã dùng gươm giết U-ri, người Hê-tít, lấy vợ nó làm vợ ngươi, còn nó thì ngươi đã giết bởi gươm của dân Am-môn.
9Heaha hoi kau i hoowahawaha ai i ke kanawai o Iehova, e hana i ka hewa imua o kona maka? Ua pepehi ae oe ia Uria ka Heta me ka pahikaua, a ua lawe oe i kana wahine i wahine nau; a ua pepehi i ke kane me ka pahikaua a ka poe mamo a Amona.
10Nên bây giờ, gươm chẳng hề thôi hủy hoại nhà ngươi, bởi vì ngươi đã khinh ta, cướp vợ U-ri, người Hê-tít, đặng nàng làm vợ ngươi.
10No ia mea hoi, aole loa e kaawale aku ka pahikaua mai kou ohana aku; no ka mea, ua hoowahawaha mai oe ia'u, a ua lawe oe i ka wahine a Uria ka Heta i wahine nau.
11Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ta sẽ khiến từ nhà ngươi nổi lên những tai họa giáng trên ngươi; ta sẽ bắt các vợ ngươi tại trước mắt ngươi trao cho một người lân cận ngươi, nó sẽ làm nhục chúng nó tại nơi bạch nhựt.
11Penei ka Iehova i olelo mai ai, Eia hoi, e hoala auanei au i ka ino ku e ia oe maloko o kou hale, a e lawe au i kau mau wahine imua o kou maka, a e haawi aku ia lakou na kou hoalauna, a e moe ia me kau mau wahine imua o keia la.
12Vì ngươi đã làm sự kia cách kín nhiệm, nhưng ta sẽ làm việc nầy trước mặt cả Y-sơ-ra-ên và tại nơi bạch nhựt.
12No ka mea, ua hana malu oe i kau; aka, e hana au i keia mea imua o ka Iseraela a pau, a imua hoi o ka la.
13Đa-vít bèn nói cùng Na-than rằng: Ta đã phạm tội cùng Đức Giê-hô-va. Na-than đáp cùng Đa-vít rằng: Đức Giê-hô-va cũng đã xóa tội vua; vua không chết đâu.
13I aku la o Davida ia Natana, Ua hana hewa wau ia Iehova. I mai la o Natana ia Davida, Ua kala aku hoi o Iehova i kou hewa; aole oe e make.
14Nhưng vì việc nầy vua đã gây dịp cho những kẻ thù nghịch Đức Giê-hô-va nói phạm đến Ngài, nên con trai đã sanh cho ngươi hẳn sẽ chết.
14Aka, no ka mea, ma keia hana ana au, ua loaa i ka poe enemi o Iehova ke kumu e olelo hoino ai, he oiaio no e make ke keiki i hanau mai nau.
15Đoạn, Na-than trở về nhà mình. Đức Giê-hô-va bèn đánh đứa trẻ mà vợ của U-ri đã sanh cho Đa-vít, và nó bị đau nặng lắm.
15Hoi aku la o Natana i kona hale. Hahau mai la o Iehova i ke keiki a ka wahine a Uria i hanau mai ai na Davida, a mai nui iho la ia.
16Đa-vít vì con cầu khẩn Đức Chúa Trời và kiêng ăn; đoạn, người trở vào nhà, trọn đêm nằm dưới đất.
16Nolaila, nonoi aku la o Davida i ke Akua no ke keiki: hookeai iho la o Davida, komo aku la, a moe iho la ma ka honua a ao ka po.
17Các trưởng lão trong nhà chổi dậy đứng chung quanh người đặng đỡ người lên khỏi đất; nhưng người không khứng, và chẳng ăn với họ.
17Ku ae la na lunakahiko o kona hale, hele aku la io na la e hoala ia ia mai ka honua ae: aole ia i ae aku, aole hoi i ai i ka ai me lakou.
18Ngày thứ bảy đứa trẻ chết. Các tôi tớ của Đa-vít ngại cho người biết đứa trẻ đã chết; vì họ nói rằng: Lúc đứa trẻ còn sống, chúng tôi có khuyên giải vua, vua không khứng nghe chúng tôi; vậy làm sao chúng tôi lại dám nói cùng vua rằng đứa trẻ đã chết? Có lẽ vua rủi ro!
18A i ka hiku o ka la, make iho la ke keiki. Makau iho la na kauwa a Davida e hai aku ia ia, ua make ke keiki; i ae la lakou, Aia i ke ola ana o ke keiki, olelo aku la kakou ia ia, aole ia i hoolohe mai i ko kakou leo: he oiaio no, e hana eha oia ia ia iho, ke hai aku kakou ia ia, ua make ke keiki.
19Nhưng Đa-vít thấy những tôi tớ nó nhỏ nhỏ, hiểu rằng đứa trẻ đã chết, nên hỏi rằng: Có phải đứa trẻ đã chết chăng? Họ thưa: Phải, đã chết rồi.
19A ike ae la o Davida i ka hamumumu a na kauwa ana, ike iho la o Davida, ua make ke keiki: nolaila i aku la o Davida i kana mau kauwa, Ua make anei ke keiki? I mai la lakou, Ua make.
20Bấy giờ, Đa-vít chờ dậy khỏi đất, tắm mình, xức dầu thơm, và thay quần áo; rồi người đi vào đền của Đức Giê-hô-va và thờ lạy. Đoạn, người trở về cung, truyền dọn vật thực cho mình, và người ăn.
20Alaila, ku ae la o Davida mai ka honua aku, auau iho la, a hamo iho la i ka aila, aahu iho la ia ia i ka lole hou, hele aku la i ka hale o Iehova, a hoomana aku la. Alaila hoi mai la ia i kona hale: a kena aku la ia, a kau mai la lakou i ka ai imua ona, a ai iho la ia.
21Các tôi tớ hỏi người rằng: Vua làm chi vậy? Khi đứa trẻ nầy còn sống, vua kiêng ăn và khóc vì nó; và bấy giờ, nó đã chết vua chờ dậy và ăn!
21Alaila, i aku la kana mau kauwa ia ia. Heaha keia au i hana iho nei? hookeai iho la oe me ka uwe i ke keiki i kona wa e ola ana; a make iho ke keiki, ua ala ae oe a ai iho i ka ai.
22Vua đáp: Khi đứa trẻ còn sống, ta kiêng ăn và khóc lóc, vì ta nghĩ rằng: Nào ai biết; có lẽ Đức Giê-hô-va sẽ thương xót ta, và cho đứa trẻ được sống chăng.
22I mai la kela, A e ola ana ke keiki, hookeai iho la au me ka uwe: i iho la au, Malama paha e aloha mai ke Akua ia'u i ola ke keiki.
23Nhưng bây giờ nó đã chết, ta kiêng ăn làm chi? Ta có thế làm cho nó trở lại ư? Ta sẽ đi đến nó nhưng nó không trở lại cùng ta.
23Ano hoi, ua make ia: no ke aha hoi au e hookeai ai? E hiki anei ia'u ke hoihoi mai ia ia? Owau ke hele aku io na la, aka, aole ia e hoi hou mai io'u nei.
24Đa-vít an ủi Bát-sê-ba, vợ mình, đến ngủ cùng nàng; nàng sanh một đứa trai, đặt tên là Sa-lô-môn. Đức Giê-hô-va yêu mến Sa-lô-môn,
24Hooluolu aku la o Davida ia Bateseba i kana wahine; komo aku la ia iloko io na la, a moe me ia: a hanau mai la ia i keikikane, a kapa aku la kela i kona inoa, o Solomona; a aloha mai la o Iehova ia ia.
25nên Ngài sai đấng tiên tri Na-than đến đặt tên cho nó là Giê-đi-đia, vì Đức Giê-hô-va yêu mến nó.
25Hoouna mai la ia i ke kaula ia Natana, a kapa mai la ia i kona inoa o Iedidia, no Iehova.
26Giô-áp đánh Ráp-ba của dân Am-môn, và hãm lấy đế đô.
26Kaua aku la o Ioaba ia Raba o na mamo a Amona, a hoopio mai la i ke kulanakauhale alii.
27Người sai sứ giả đến cùng Đa-vít mà nói rằng: Tôi có đánh Ráp-ba và hãm lấy thành ở mạn dưới rồi.
27Hoouna mai la o Ioaba i na elele io Davida la, i mai la, E, ua kana aku no wau ia Raba, a ua hoopio iho i ke kulanakauhale wai.
28Bây giờ, vua hãy nhóm hiệp chiến sĩ còn lại, đến đóng trước thành và chiếm lấy nó, kẻo tôi hãm lấy nó thì công đó về tôi chăng.
28Ano hoi, e hoakoakoa pu mai oe i na kanaka e koe, e kaua aku i ke kulanakauhale, a e hoopio ia wahi; o pio auanei ke kulanakauhale ia'u, a e kaheaia ko'u inoa maluna ona.
29Vậy, vua Đa-vít nhóm hiệp cả dân sự, kéo đến đánh Ráp-ba, vây và hãm lấy nó.
29Hoakoakoa pu ae la o Davida i na kanaka a pau, a hele aku la i Raba, kaua aku la ia, a hoopio iho la ia wahi.
30Người lột cái mão triều thiên của vua dân Am-môn đội trên đầu; mão đó cân nặng một ta-lâng vàng, có trang sức những bửu thạch; Đa-vít đặt nó ở trên đầu mình. Người cũng đoạt lấy rất nhiều của cải thành mà đem đi.
30Lawe ae la hoi ia i ka papale o ko lakou alii, mailuna o kona poo, ma ke kaupaona ana, he talena gula ia, me na pohaku makamae, a ua kauia maluna o ke poo o Davida. A lawe mai la ia i ka waiwai pio o ke kulanakauhale he nui loa.
31Người điệu dân sự ở thành ấy ra, bắt chúng phải làm công dịch bằng cưa, bừa sắt, rìu sắt, và lò gạch; người cũng đãi hết thảy thành của dân Am-môn như vậy. Đoạn, Đa-vít và cả dân sự đều trở về Giê-ru-sa-lem.
31Lawe ae la hoi oia i na kanaka maloko, a kau iho la ia lakou malalo o na pahiolo, a malalo o na mea hao oioi, a malalo hoi o na koilipi hao, a hoohele aku la hoi ia lakou mawaena o ka umu pohakuula: pela ia i hana aku ai i na kulanakauhale a pau i na mamo a Amona. A hoi aku la o Davida a me na kanaka a pau i Ierusalema.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.