II Sam 12
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)
1Đức Giê-hô-va sai Na-than đến cùng Đa-vít. Vậy, Na-than đến cùng người mà rằng: Trong một thành kia có hai người, người nầy giàu, còn người kia nghèo.
1O SENHOR enviou Natã a Davi. Ele chegou até ele e lhe disse: “Havia dois homens em uma cidade: um rico e o outro pobre.
2Người giàu có chiên bò rất nhiều;
2O homem rico tinha muitos rebanhos e gado,
3nhưng người nghèo, nếu chẳng kể một con chiên cái nhỏ mà người đã mua, thì chẳng có gì hết. Người nuôi nó; nó cùng lớn lên với con cái người tại nhà người, ăn đồ người ăn, uống đồ người uống, và ngủ trên lòng người; nó như một con gái của người vậy.
3mas o homem pobre não tinha nada, exceto uma pequena cordeira, que ele havia comprado e criado. Ela cresceu junto com ele e com os seus filhos. Ela comia da sua própria comida, bebia do seu próprio copo, dormia em seus braços e era como uma filha para ele.
4Vả, có người khách đến người giàu; người giàu tiếc không muốn đụng đến chiên bò của mình đặng dọn một bữa ăn cho người khách đã đến, bèn bắt con chiên con của người nghèo và dọn cho kẻ khách đã đến thăm mình.
4Um viajante chegou ao homem rico, e ele não quis pegar do seu próprio rebanho e do seu próprio gado para preparar comida para o viajante que havia chegado até ele, mas pegou a cordeira do homem pobre e a preparou para o homem que o visitava.”
5Đa-vít bèn nổi giận lắm cùng người ấy, và nói cùng Na-than rằng: Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề, người đã phạm điều ấy thật đđng chết!
5A ira de Davi se acendeu profundamente contra aquele homem, e ele disse a Natã: “Tão certo como vive o SENHOR, o homem que fez isso merece morrer!
6Hắn phải thường bốn lần giá chiên conkhông có lòng thương xót.
6Ele deverá restituir a cordeira quatro vezes mais, porque ele fez essa coisa e porque não teve compaixão!”
7Bấy giờ, Na-than nói cùng Đa-vít rằng: Vua là người đó! Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên có phán như vầy: Ta đã xức dầu lập ngươi làm vua Y-sơ-ra-ên, ta đã giải cứu ngươi khỏi tay Sau-lơ.
7Natã disse a Davi: “Você é esse homem! Assim diz o SENHOR, o Deus de Israel: 'Eu o ungi rei sobre Israel, e o livrei das mãos de Saul.
8Ta cũng ban cho ngươi nhà của chủ ngươi, trao vào tay ngươi các vợ của chủ ngươi, lập ngươi làm vua của nhà Y-sơ-ra-ên và Giu-đa, và nếu điều đó không đủ, ắt ta sẽ thêm cho ơn khác nữa.
8Eu lhe dei a casa do seu senhor e as esposas do seu senhor em seus braços, e lhe dei a casa de Israel e de Judá; e se isso fosse muito pouco, eu lhe teria acrescentado muitas outras coisas.
9Cớ sau ngươi đã khinh bỉ lời của Đức Giê-hô-va, mà làm điều không đẹp lòng Ngài? Ngươi đã dùng gươm giết U-ri, người Hê-tít, lấy vợ nó làm vợ ngươi, còn nó thì ngươi đã giết bởi gươm của dân Am-môn.
9Por que você desprezou a palavra do SENHOR, fazendo o que é mau aos seus olhos? Você matou Urias, o heteu, com a espada, tomou a esposa dele para ser sua esposa, e o assassinou com a espada dos filhos de Amom.
10Nên bây giờ, gươm chẳng hề thôi hủy hoại nhà ngươi, bởi vì ngươi đã khinh ta, cướp vợ U-ri, người Hê-tít, đặng nàng làm vợ ngươi.
10Agora, portanto, a espada nunca se apartará da sua casa, porque você me desprezou e tomou a esposa de Urias, o heteu, para ser sua esposa.'
11Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ta sẽ khiến từ nhà ngươi nổi lên những tai họa giáng trên ngươi; ta sẽ bắt các vợ ngươi tại trước mắt ngươi trao cho một người lân cận ngươi, nó sẽ làm nhục chúng nó tại nơi bạch nhựt.
11“Assim diz o SENHOR: 'Eis que levantarei o mal contra você a partir da sua própria casa; e tomarei as suas esposas diante dos seus olhos e as darei ao seu próximo, e ele se deitará com as suas esposas à luz do sol.
12Vì ngươi đã làm sự kia cách kín nhiệm, nhưng ta sẽ làm việc nầy trước mặt cả Y-sơ-ra-ên và tại nơi bạch nhựt.
12Pois você fez isso em segredo, mas eu farei esta coisa diante de todo o Israel, e em plena luz do dia.'”
13Đa-vít bèn nói cùng Na-than rằng: Ta đã phạm tội cùng Đức Giê-hô-va. Na-than đáp cùng Đa-vít rằng: Đức Giê-hô-va cũng đã xóa tội vua; vua không chết đâu.
13Davi disse a Natã: “Pequei contra o SENHOR.” Natã respondeu a Davi: “O SENHOR também perdoou o seu pecado. Você não morrerá.
14Nhưng vì việc nầy vua đã gây dịp cho những kẻ thù nghịch Đức Giê-hô-va nói phạm đến Ngài, nên con trai đã sanh cho ngươi hẳn sẽ chết.
14No entanto, porque com este ato você deu grande motivo para os inimigos do SENHOR blasfemarem, a criança que lhe nasceu certamente morrerá.”
15Đoạn, Na-than trở về nhà mình. Đức Giê-hô-va bèn đánh đứa trẻ mà vợ của U-ri đã sanh cho Đa-vít, và nó bị đau nặng lắm.
15Então Natã voltou para a sua casa. O SENHOR feriu a criança que a esposa de Urias deu à luz a Davi, e ela ficou gravemente doente.
16Đa-vít vì con cầu khẩn Đức Chúa Trời và kiêng ăn; đoạn, người trở vào nhà, trọn đêm nằm dưới đất.
16Davi, portanto, suplicou a Deus pela criança; e Davi jejuou, e entrou e passou a noite toda deitado no chão.
17Các trưởng lão trong nhà chổi dậy đứng chung quanh người đặng đỡ người lên khỏi đất; nhưng người không khứng, và chẳng ăn với họ.
17Os líderes da sua casa se levantaram e ficaram ao lado dele, para levantá-lo do chão; mas ele se recusou, e não comeu pão com eles.
18Ngày thứ bảy đứa trẻ chết. Các tôi tớ của Đa-vít ngại cho người biết đứa trẻ đã chết; vì họ nói rằng: Lúc đứa trẻ còn sống, chúng tôi có khuyên giải vua, vua không khứng nghe chúng tôi; vậy làm sao chúng tôi lại dám nói cùng vua rằng đứa trẻ đã chết? Có lẽ vua rủi ro!
18No sétimo dia, a criança morreu. Os servos de Davi tiveram medo de lhe dizer que a criança estava morta, pois diziam: “Eis que, enquanto a criança ainda estava viva, nós falávamos com ele e ele não ouvia a nossa voz. Como então ele poderá fazer mal a si mesmo se lhe dissermos que a criança está morta?”
19Nhưng Đa-vít thấy những tôi tớ nó nhỏ nhỏ, hiểu rằng đứa trẻ đã chết, nên hỏi rằng: Có phải đứa trẻ đã chết chăng? Họ thưa: Phải, đã chết rồi.
19Mas quando Davi viu que os seus servos estavam sussurrando entre si, Davi percebeu que a criança estava morta; e Davi perguntou aos seus servos: “A criança está morta?” Eles responderam: “Está morta.”
20Bấy giờ, Đa-vít chờ dậy khỏi đất, tắm mình, xức dầu thơm, và thay quần áo; rồi người đi vào đền của Đức Giê-hô-va và thờ lạy. Đoạn, người trở về cung, truyền dọn vật thực cho mình, và người ăn.
20Então Davi se levantou do chão, lavou-se, ungiu-se e trocou de roupa; e ele entrou na casa do SENHOR, e adorou. Depois, foi para a sua própria casa; e, quando ele pediu, colocaram pão diante dele e ele comeu.
21Các tôi tớ hỏi người rằng: Vua làm chi vậy? Khi đứa trẻ nầy còn sống, vua kiêng ăn và khóc vì nó; và bấy giờ, nó đã chết vua chờ dậy và ăn!
21Então os seus servos lhe perguntaram: “O que é isso que você fez? Você jejuou e chorou pela criança enquanto ela estava viva, mas quando a criança morreu, você se levantou e comeu pão.”
22Vua đáp: Khi đứa trẻ còn sống, ta kiêng ăn và khóc lóc, vì ta nghĩ rằng: Nào ai biết; có lẽ Đức Giê-hô-va sẽ thương xót ta, và cho đứa trẻ được sống chăng.
22Ele respondeu: “Enquanto a criança ainda estava viva, eu jejuei e chorei; pois eu dizia: 'Quem sabe se o SENHOR não terá misericórdia de mim, para que a criança viva?'
23Nhưng bây giờ nó đã chết, ta kiêng ăn làm chi? Ta có thế làm cho nó trở lại ư? Ta sẽ đi đến nó nhưng nó không trở lại cùng ta.
23Mas agora ela está morta. Por que eu deveria jejuar? Posso eu trazê-la de volta? Eu irei para ela, mas ela não voltará para mim.”
24Đa-vít an ủi Bát-sê-ba, vợ mình, đến ngủ cùng nàng; nàng sanh một đứa trai, đặt tên là Sa-lô-môn. Đức Giê-hô-va yêu mến Sa-lô-môn,
24Davi consolou Bate-Seba, sua esposa, e entrou até ela, e se deitou com ela. Ela deu à luz um filho, e ele o chamou de Salomão. O SENHOR o amou;
25nên Ngài sai đấng tiên tri Na-than đến đặt tên cho nó là Giê-đi-đia, vì Đức Giê-hô-va yêu mến nó.
25e ele enviou uma mensagem por meio do profeta Natã, e lhe deu o nome de Jedidias, por causa do SENHOR.
26Giô-áp đánh Ráp-ba của dân Am-môn, và hãm lấy đế đô.
26Ora, Joabe lutou contra Rabá, dos filhos de Amom, e tomou a cidade real.
27Người sai sứ giả đến cùng Đa-vít mà nói rằng: Tôi có đánh Ráp-ba và hãm lấy thành ở mạn dưới rồi.
27Joabe enviou mensageiros a Davi, e disse: “Lutei contra Rabá. Sim, tomei a cidade das águas.
28Bây giờ, vua hãy nhóm hiệp chiến sĩ còn lại, đến đóng trước thành và chiếm lấy nó, kẻo tôi hãm lấy nó thì công đó về tôi chăng.
28Agora, portanto, reúna o restante do povo, acampe contra a cidade e tome-a; para que não seja eu a tomar a cidade, e ela seja chamada pelo meu nome.”
29Vậy, vua Đa-vít nhóm hiệp cả dân sự, kéo đến đánh Ráp-ba, vây và hãm lấy nó.
29Davi reuniu todo o povo e foi a Rabá, lutou contra ela e a tomou.
30Người lột cái mão triều thiên của vua dân Am-môn đội trên đầu; mão đó cân nặng một ta-lâng vàng, có trang sức những bửu thạch; Đa-vít đặt nó ở trên đầu mình. Người cũng đoạt lấy rất nhiều của cải thành mà đem đi.
30Ele tirou a coroa da cabeça do rei deles; o peso dela era de um talento de ouro, e nela havia pedras preciosas; e foi colocada na cabeça de Davi. Ele levou uma grande quantidade de despojos da cidade.
31Người điệu dân sự ở thành ấy ra, bắt chúng phải làm công dịch bằng cưa, bừa sắt, rìu sắt, và lò gạch; người cũng đãi hết thảy thành của dân Am-môn như vậy. Đoạn, Đa-vít và cả dân sự đều trở về Giê-ru-sa-lem.
31Ele trouxe os habitantes que estavam nela, e os colocou para trabalhar com serras, com picaretas de ferro e com machados de ferro, e os fez trabalhar em fornos de tijolos; e assim ele fez com todas as cidades dos filhos de Amom. Então Davi e todo o povo voltaram para Jerusalém.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.