II Sam
Chapter 4
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Baibala Hemolele (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Khi con trai của Sau-lơ hay rằng Aùp-ne đã thác tại Hếp-rôn, thì sờn lòng rủn chí, và cả Y-sơ-ra-ên đều bối rối.
1A LOHE ae la ke keiki a Saula, ua make o Abenera ma Heberona, palupalu iho la kona mau lima, a pihoihoi ka Iseraela a pau.
2Vả, con trai Sau-lơ có hai đội trưởng, một người tên là Ba-a-na, một người tên là Rê-cáp: hai người là con trai của Rim-môn ở Bê-ê-rốt về chi phái Bên-gia-min, -vì dân Bê-ê-rốt kể như người Bên-gia-min,
2Aia na kanaka elua no ke keiki a Saula, he mau lunakoa; o Baana ka inoa o kekahi, a o Rekaba ka inoa o kekahi; na keiki laua a Rimona no Beerota no na mamo a Beniamina; (no ka mea, ua helu pu ia o Beerota me ka Beniamina;
3mặc dầu chúng đã chạy trốn nơi Ghi-tha-im, là nơi chúng ở cho đến ngày nay. -
3Holo aku la na kanaka o Beerota i Gitaima, a ua noho malihini lakou ilaila, a hiki i neia manawa.)
4Giô-na-than, con trai của Sau-lơ, có một con trai bại chân: khi tin Sau-lơ và Giô-na-than thác ở Gít-rê-ên thấu đến, thì nó đã được năm tuổi. Vú nó đem nó chạy trốn; trong cơn lật đật trốn, nó té, nên nỗi nó trở nên què. Tên nó là Mê-phi-bô-sết.
4A o Ionatana ke keiki a Saula, nana no kekahi keikikane, ua oopa ma kona mau wawae. Elima ona mau makahiki i ka wa i hiki aku ai ka olelo no Saula a no Ionatana mai Iezereela aku, a kaikai aku la kona kahu ia ia, a holo aku la: a i kona wikiwiki ana e holo aku, haule iho la kela a oopa iho la. O Mepiboseta kona inoa.
5Hai con trai của Rim-môn ở Bê-ê-rốt, là Rê-cáp và Ba-a-na, trong lúc trời nắng ban ngày, đi đến nhà ỗch-bô-sết, người đang nằm nghỉ trưa.
5Hele aku la o Rekaba a me Baana na keiki a Rimona no Beerota, a hoi mai la laua i ka hale o Iseboseta i ka manawa i wela ai ka la, a e moe ana ia ma ka moe i ke awakea.
6Hai người đi tuốt đến giữa nhà, giả đò lấy lúa mì, rồi đâm bụng ỗch-bô-sết; đoạn Rê-cáp và Ba-a-na, anh người, trốn đi.
6Hele aku la laua ilaila iwaena konu o ka hale, e like me ke kii i ka hua palaoa; a hou aku la laua ia ia malalo iho o ka lima o ka iwiaoao: a pakele aku la o Rekaba a me Baana kona hoahanau.
7Vậy, hai người đi vào nhà ỗch-bô-sết, trong khi người nằm nghỉ trên giường tại phòng ngủ, đánh giết người; đoạn cắt lấy đầu người, rồi bắt đường đồng bằng mà đi trọn đêm.
7No ka mea, i ko laua hele ana aku iloko o ka hale, e moe ana ia maluna o kona moe iloko o kona keena moe, hou aku la laua ia ia, a make ia; a oki iho la laua i kona poo, a holoholo aku la ma ka papu a ao ka po.
8Hai người đem đầu ỗch-bô-sết về Hếp-rôn, dâng cho vua Đa-vít, mà rằng: Nầy là đầu của ỗch-bô-sết, con trai của Sau-lơ, kẻ thù nghịch vua, vẫn toan hại mạng sống vua; ngày nay Đức Giê-hô-va đã báo thù Sau-lơ và dòng dõi người cho vua, là chúa tôi.
8Lawe mai la laua i ke poo o Iseboseta io Davida la i Heberona, i mai la i ke alii, Eia ke poo o Iseboseta ke keiki a Saula, o kou enemi, nana i imi mai i kou ola. I keia la, ua hoopai mai o Iehova maluna o Saula a me kana hua, no kuu haku no ke alii.
9Nhưng Đa-vít đáp cùng Rê-cáp và Ba-a-na con trai của Rim-môn ở Bê-ê-rốt, mà rằng: Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng đã cứu ta khỏi các hoạn nạn, mà thề rằng:
9Olelo aku la Davida ia Rekaba a me Baana kona hoahanau, na keiki a Rimona no Beerota, i aku la ia laua, Ma ko Iehova ola ana, nana i hoopakele i kuu oia i ka popilikia a pau,
10Ta đã sai bắt kẻ đã đến thuật cho ta hay rằng Sau-lơ đã thác, và tư tưởng rằng mình là một sứ giả đem tin lành; ta đã giết kẻ đó tại Xiếc-lác đặng trả công cho một sự báo tin dường ấy.
10A hai mai la kekahi ia'u, i ka i ana mai, Aia ua make o Saula, e manao ana ia he olelo maikai kana ia'u, lalau aku la au ia ia, a pepehi iho la ia ia ma Zikelaga: oia iho la ka uku a'u i haawi aku ai ia ia no kana olelo ana:
11Phương chi những kẻ hung ác đã giết một người lành nằm trên giường tại trong nhà mình! Vậy, ta há chẳng nên đòi huyết người lại nơi tay các ngươi, và diệt các ngươi khỏi đất sao?
11Oia aku no, a i pepehi iho na kanaka hewa i ke kanaka pono maloko o kona hale maluna o Kona moe iho; aole anei au e hoopai koke aku i kona koko ma ko olua mau lima, a e kaili aku ia olua mai ka honua aku?
12Đa-vít bèn truyền lịnh các đầy tớ mình giết hai người đó. Chúng chặt tay và chân họ, rồi treo thây gần bên ao Hếp-rôn. Đoạn, chúng lấy đầu của ỗch-bô-sết, chôn trong mồ Aùp-ne, tại Hếp-rôn.
12Kena aku la Davida i na kanaka opiopio ona, a pepehi aku la lakou ia laua, a oki iho la i ko laua mau lima a me na wawae, a kau aku la ia laua maluna ma ka punawai o Heberona. A lawe ae la lakou i ke poo o Iseboseta, a kanu iho la iloko o ka hale kupapau o Abenera ma Heberona.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.