II Sam 6
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Đa-vít lại nhóm hiệp hết thảy những người kén chọn của Y-sơ-ra-ên, số chừng ba vạn người.
1HOULUULU hou ae la o Davida i na kanaka i waeia a pau o ka Iseraela, he kanakolu tausani.
2Đoạn, người chỗi dậy, có cả dân sự đồng theo, đi từ Ba-lê ở xứ Giu-đa đặng thỉnh hòm của Đức Chúa Trời lên; trước hòm ấy dân cầu khẩn danh Chúa, tức là chính danh Đức Giê-hô-va vạn quân, vẫn ngự ở giữa chê-ru-bin tại trên hòm ấy.
2Ku ae la o Davida, a hele pu aku la me na kanaka a pau me ia mai Baale o ka Iuda, e halihali mai laila mai i ka pahu o ke Akua, i ka mea i heaia aku ai ka inoa, ka inoa o Iehova sabaota, o ka Mea e noho ana mawaena o na kerubima.
3Chúng để hòm của Đức Chúa Trời trên một cái xe mới, rồi đem đi khỏi nhà A-bi-na-đáp, ở tại trên gò nỗng; U-xa và A-hi-giô, con trai A-bi-na-đáp, dẫn cái xe mới đó.
3Kau aku la lakou i ka pahu o ke Akua maluna o ke kaa hou, a lawe mai la ia mailoko ae o ka hale o Abinadaba ma Gibea. Kai aku la o Uza a me Ahio na keikikane a Abinadaba i ke kaa hou.
4Vậy, chúng dời hòm khỏi nhà A-bi-na-đáp ở tại trên gò nỗng: U-xa đi gần bên hòm của Đức Chúa Trời, còn A-hi-giô đi trước hòm.
4Lawe mai la lakou ia mea mailoko mai o ka hale o Abinadaba ma Gibea, e hele pu ana me ka pahu o ke Akua, a hele aku la o Ahio imua o ka pahu.
5Đa-vít và cả nhà Y-sơ-ra-ên đều múa hát trước mặt Đức Giê-hô-va với đủ thứ nhạc khí bằng gỗ bá hương, đàn cầm, đàn sắt, trống, bạt, và mã la.
5Hookani aku la o Davida a me ka ohana a Iseraela a pau imua o Iehova, me na mea kani o na laau o kela ano o keia ano; me na lira, na pesaleteria, na timeberela, na korineta, a me na kimebala.
6Khi đến sân đạp lúc của Na-côn, U-xa giơ tay lên nắm hòm của Đức Chúa Trời, bởi vì những con bò vấp ngã.
6A hiki aku la lakou i kahi hehipalaoa no Nakona, o aku la o Uza i kona lima i ka pahu o ke Akua, a paa aku la ia; no ka mea ua okupe na bipikauo.
7Cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va bèn nổi phừng cùng U-xa; Đức Chúa Trời hành hại người vì cớ lầm lỗi người, và người chết tại đó, gần bên hòm của Đức Chúa Trời.
7Huhu mai la o Iehova ia Uza, a hahau mai la ke Akua ia ia malaila, no kona hala; a make iho la ia malaila ma ka pahu o ke Akua.
8Đa-vít lấy làm buồn thảm, vì Đức Giê-hô-va đã hành hại U-xa, và người ta gọi chỗ ấy là Hành hại U-xa cho đến ngày nay.
8Ukiuki iho la o Davida i ko Iehova hahau ana aku ia Uza; a kapa aku la o Davida i ka inoa o ia wahi, o Perezuza.
9Trong ngày đó, Đa-vít sợ Đức Giê-hô-va và nói rằng: Hòm của Đức Giê-hô-va sẽ thế nào vào nhà ta được?
9Makau iho la o Davida ia Iehova ia la, i iho la, Pehea la e hiki aku ai ka pahu o ke Akua io'u la?
10Vậy Đa-vít không muốn để hòm của Đức Giê-hô-va đến nhà mình tại trong thành Đa-vít; bèn biểu dẫn vào trong nhà Ô-bết-Ê-đôm, là người Gát.
10Nolaila, aole i lawe o Davida i ka pahu o Iehova io na la i ke kulanakauhale o Davida: aka, lawe ae la o Davida ia mea iloko o ka hale o Obededoma no Gata.
11Như vậy, hòm của Đức Giê-hô-va ở ba tháng trong nhà Ô-bết-Ê-đôm, người Gát; Đức Giê-hô-va ban phước cho Ô-bết-Ê-đôm và cả nhà người.
11A waiho wale ia ka pahu o Iehova ma ka hale o Obededoma no Gata i na malama ekolu, a hoopomaikai mai la o Iehova ia Obededoma a me ko ka hale ona a pau.
12Người ta đến nói cùng vua Đa-vít rằng: Đức Giê-hô-va đã ban phước cho nhà Ô-bết-Ê-đôm và mọi vật thuộc về người, vì cớ hòm của Đức Chúa Trời. Đa-vít bèn đi thỉnh hòm của Đức Chúa Trời ở nhà Ô-bết-Ê-đôm đến trong thành Đa-vít cách rất vui mừng.
12Hai aku la lakou ia Davida i ke alii, i mai la, E, ua hoopomaikai o Iehova i ko ka hale o Obededoma, a me na mea a pau ia ia, no ka pahu o ke Akua. A hele aku la o Davida, a lawe mai la i ka pahu o ke Akua, mai ka hale o Obededoma mai, a iloko o ke kulanakauhale o Davida me ka olioli.
13Khi những người khiêng hòm của Đức Chúa Trời đã đi sáu bước, thì Đa-vít tế một con bò đực và một con thú mập béo.
13Aia, hele aku la ka poe halihali i ka pahu o Iehova i na ana eono, mohai aku la oia i na bipi a me na mea i kupaluia.
14Đa-vít mặc áo ê-phót vải gai, nhảy múa hết sức tại trước mặt Đức Giê-hô-va.
14Haa ikaika aku la hoi o Davida imua o Iehova; a ua kaeiia o Davida i ka epoda olona.
15Aáy Đa-vít và cả nhà Y-sơ-ra-ên lấy tiếng vui mừng và tiếng kèn thổi mà thỉnh hòm của Đức Giê-hô-va lên là như vậy.
15A halihali mai la o Davida a me ka ohana a Iseraela a pau i ka pahu o Iehova me ka hooho ana, a me ka hookani ana i ka pu.
16Nhưng khi hòm của Đức Giê-hô-va vào thành Đa-vít, thì Mi-canh, con gái của Sau-lơ, dòm ngang qua cửa sổ, thấy Đa-vít múa nhảy trước mặt Đức Giê-hô-va, thì trong lòng khinh bỉ người.
16A i ka hiki ana mai o ka pahu o ke Akua iloko o ke kulanakauhale o Davida, nana aku la o Mikala ke kaikamahine a Saula ma ka puka makani, a ike aku la i ke alii ia Davida e lele ana, a e haa ana imua o Iehova; hoowahawaha aku la kona naau ia ia.
17Vậy, chúng đem hòm của Đức Giê-hô-va vào, đặt tại chỗ, giữa trại Đa-vít đã dựng cho hòm đó; rồi Đa-vít dâng của lễ thiêu và của lễ thù ân tại trước mặt Đức Giê-hô-va.
17Lawe mai la lakou i ka pahu o Iehova iloko, a kau iho la ia ma kona wahi, mawaena konu o ka halelewa a Davida i kukulu ai nona: a mohai aku la o Davida i na mohaikuni, a me na mohai aloha imua o Iehova.
18Khi Đa-vít đã dâng của lễ thiêu và các của lễ thù ân, thì người nhơn danh Đức Giê-hô-va vạn quân mà chúc phước cho dân sự;
18A pau ae la ka Davida mohai ana i na mohaikuni a me na mohai hoomalu, hoomaikai aku la ia i na kanaka ma ka inoa o Iehova sabaota.
19người phát cho hết thảy dân chúng Y-sơ-ra-ên, bất luận nam hay nữ, mỗi người một ổ bánh, một miếng thịt, và một bánh nho. Đoạn, hết thảy ai về nhà nấy.
19A haawi aku la ia na ka poe kanaka a pau, na ke anaina kanaka a pau o ka Iseraela, na na wahine a me na kane, na kela mea keia mea, i ka popo berena a me kauwahi ia, a me kekahi pai huawaina. A hoi hou aku la na kanaka a pau i ko lakou mau wahi.
20Đa-vít cũng trở về đặng chúc phước cho nhà mình; nhưng Mi-canh, con gái của Sau-lơ, đến đón người, mà nói rằng: Hôm nay vua Y-sơ-ra-ên được vinh hiển thay, mà ở trần trước mặt các con đòi của tôi tớ vua, làm như một kẻ không ra gì vậy!
20Hoi hou aku la o Davida e hooaloha i ko ka hale ona. Hele mai la o Mikala ke kaikamahine a Saula e halawai me Davida, i mai la, Kai ka nani o ke alii o ka Iseraela i keia la, nana i wehe ae i kona kapa i keia la imua o na maka o na kauwawahine a kona poe kanaka, e like me ka wehe hilahila ole ana o kekahi kanaka lapuwale.
21Đa-vít đáp với Mi-canh rằng: Aáy tại trước mặt Đức Giê-hô-va, là Đấng đã chọn lấy ta làm hơn cha nàng và cả nhà người, lập ta làm vua chúa Y-sơ-ra-ên, là dân của Đức Giê-hô-va; phải, trước mặt Đức Giê-hô-va, ta có hát múa.
21I aku la o Davida ia Mikala, Imua ia o Ieliova, nana au i koho mai imua o kou makuakane, imua hoi o kana ohana a pau e hoonoho ia'u i alii maluna o ko Iehova poe kanaka, maluna o ka Iseraela: nolaila hoi e hula au imua o Iehova.
22Ta sẽ hạ mình xuống nhiều hơn nữa, tự xem mình là hèn mạt; dầu vậy, những con đòi nàng nói đó lại sẽ tôn kính ta.
22A ma keia hope, e lilo ana au i mea i hoowahawahaia, a i mea ino hoi imua o ko'u maka iho: a o ka poe kauwawahine au i olelo mai ai, e hoomaikaiia mai hoi au e lakou.
23Vì vậy, Mi-canh, con gái Sau-lơ, không sanh con cho đến ngày nàng thác.
23Nolaila, aohe keiki a Mikala ke kaikamahine a Saula a hiki i kona la i make ai.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.